Lượt truy cập
Kinh Tịnh độ

KINH HOA NGHIÊM
Quyển
4

 

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Hán dịch: Đại sư Thật Xoa Nan Đà
Việt dịch: HT. Thích Trí Tịnh

Phẩm Nhập Pháp Giới - Thứ ba mươi chín

(PHẦN TRƯỚC)

*Bấy giờ, đức Thế Tôn ở nước Thất La Phiệt, trong trùng các Ðại Trang Nghiêm, tại rừng Thệ Ða, vườn Cấp Cô Ðộc. Câu hội với năm trăm đại Bồ tát, Phổ Hiền Bồ tát và Văn Thù Sư Lợi Bồ tát làm thượng thủ. Tên của các Ngài là:

Quang Diệm Tràng Bồ tát, Tu Di Tràng Bồ tát, Bửu Tràng Bồ tát, Vô Ngại Tràng Bồ tát, Hoa Tràng Bồ tát, Ly Cấu Tràng Bồ tát, Nhựt Tràng Bồ tát, Diệu Tràng Bồ tát, Ly Trần Tràng Bồ tát, Phổ Quang Tràng Bồ tát, Ðịa Oai Lực Bồ tát, Bửu Oai Lực Bồ tát, Đại Oai Lực Bồ tát,Kim Cang Trí Oai Lực Bồ tát, Ly Trần Cấu Oai Lực Bồ tát, Chánh Pháp Nhựt Oai Lực Bồ tát, Công Ðức Sơn Oai Lực Bồ tát, Trí Quang Ảnh Oai Lực Bồ tát, Phổ Kiết Tường Oai Lực Bồ tát, Ðịa Tạng Bồ tát, Hư Không Tạng Bồ tát, Liên Hoa Tạng Bồ tát, Bửu Tạng Bồ tát, Nhựt Tạng Bồ tát, Tịnh Ðức Tạng Bồ tát, Pháp Ấn Tạng Bồ tát, Quang Minh Tạng Bồ tát, Tê Tạng Bồ tát, Liên Hoa Ðức Tạng Bồ tát, Thiện Nhãn Bồ tát, Tịnh Nhãn Bồ tát, Ly Cấu Nhãn Bồ tát, Vô Ngại Nhãn Bồ tát, Phổ Kiến Nhãn Bồ tát, Phổ Quán Nhãn Bồ tát, Thanh Liên Hoa Nhãn Bồ tát, Kim Cang Nhãn Bồ tát, Bửu Nhãn Bồ tát, Hư Không Nhãn Bồ tát, Hỷ Nhãn Bồ tát, Phổ Nhãn Bồ tát, Thiên Quang Bồ tát, Phổ Chiếu Pháp Giới Trí Huệ Quang Bồ tát, Ðạo Tràng Quang Bồ tát, Phổ Chiếu Thập Phương Quang Bồ tát, Nhứt Thiết Phật Tạng Quang Bồ tát, Siêu Xuất Nhứt Thiết Thế Gian Quang Bồ tát, Phổ Chiếu Quang Bồ tát, Bất Khả Hoại Quang Bồ tát, Trì Nhứt Thiết Như Lai Sư Tử Tòa Quang Bồ tát, Phổ Chiếu Pháp Giới Hư Không Quang Bồ tát, Phạm Vương Kế Bồ tát, Long Vương Kế Bồ tát, Nhứt Thiết Hóa Phật Quang Minh Kế Bồ tát, Nhứt Thiết Ðạo Tràng Kế Bồ tát, Nhứt Thiết Nguyện Hải Âm Bửu Vương Kế Bồ tát, Nhứt Thiết Phật Quang Minh Ma Ni Kế Bồ tát, Thị Hiện Nhứt Thiết Hư Không Bình Ðẳng Tướng Ma Ni Vương Trang Nghiêm Kế Bồ tát, Thị Hiện Nhứt Thiết Như Lai Thần Biến Ma Ni Vương Tràng Võng Thùy Phúc Kế Bồ tát, Xuất Nhứt Thiết Phật Chuyển Pháp Luân Âm Kế Bồ tát, Thuyết Tam Thế Nhứt Thiết Danh Tự Âm Kế Bồ tát, Ðại Quang Bồ tát, Ly Cấu Quang Bồ tát, Bửu Quang Bồ tát, Ly Trần Quang Bồ tát, Diệm Quang Bồ tát, Pháp Quang Bồ tát, Tịch Tịnh Quang Bồ tát, Nhựt Quang Bồ tát, Tự Tại Quang Bồ tát, Thiên Quang Bồ tát, Phước Ðức Tràng Bồ tát, Trí Huệ Tràng Bồ tát, Pháp Tràng Bồ tát, Thần Thông Tràng Bồ tát, Quang Tràng Bồ tát, Hoa Tràng Bồ tát, Ma Ni Tràng Bồ tát, Bồ Ðề Tràng Bồ tát, Phạm Tràng Bồ tát, Phổ Quang Tràng Bồ tát, Phạm Âm Bồ tát, Hải Âm Bồ tát, Ðại Ðịa Âm Bồ tát, Thế Chủ Âm Bồ tát, Sơn Tướng Kích Âm Bồ tát, Biến Nhứt Thiết Pháp Giới Âm Bồ tát, Chấn Nhứt Thiết Pháp Hải Lôi Âm Bồ tát, Hàng Ma Âm Bồ tát, Ðại Bi Phương Tiện Vân Lôi Âm Bồ tát, Tức Nhứt Thiết Thế Gian Khổ An Ủi Âm Bồ tát, Pháp Thượng Bồ tát, Thắng Thượng Bồ tát, Trí Thượng Bồ tát, Phước Ðức Tu Di Thượng Bồ tát, Công Ðức San Hô Thượng Bồ tát, Danh Xưng Thượng Bồ tát, Phổ Quang Thượng Bồ tát, Đại Từ Thượng Bồ tát, Trí Hải Thượng Bồ tát, Phật Chủng Thượng Bồ tát, Quang Thắng Bồ tát, Ðức Thắng Bồ tát, Thượng Thắng Bồ tát, Phổ Minh Thắng Bồ tát, Pháp Thắng Bồ tát, Nguyệt Thắng Bồ tát, Hư Không Thắng Bồ tát, Bửu Thắng Bồ tát, Tràng Thắng Bồ tát, Trí Thắng Bồ tát, Ta La Tự Tại Vương Bồ tát, Pháp Tự Tại Vương Bồ tát, Tượng Tự Tại Vương Bồ tát, Phạm Tự Tại Vương Bồ tát, Sơn Tự Tại Vương Bồ tát, Chúng Tự Tại Vương Bồ tát, Tốc Tật Tự Tại Vương Bồ tát, Tịch Tịnh Tự Tại Vương Bồ tát, Bất Ðộng Tự Tại Vương Bồ tát, Thế Lực Tự Tại Vương Bồ tát, Tối Thắng Tự Tại Vương Bồ tát, Tịch Tịnh Âm Bồ tát, Vô Ngại Âm Bồ tát, Ðịa Chấn Âm Bồ tát, Hải Chấn Âm Bồ tát, Vân Âm Bồ tát, Pháp Quang Âm Bồ tát, Hư Không Âm Bồ tát, Thuyết Nhứt Thiết Chúng Sanh Thiện Căn Âm Bồ tát, Thị Nhứt Thiết Ðại Nguyện Âm Bồ tát, Ðạo Tràng Âm Bồ tát, Tu Di Quang Giác Bồ tát, Hư Không Giác Bồ tát, Ly Nhiễm Giác Bồ tát, Vô Ngại Giác Bồ tát, Thiện Giác Bồ tát, Phổ Chiếu Tam Thế Giác Bồ tát, Quảng Ðại Giác Bồ tát, Phổ Minh Giác Bồ tát, Pháp Giới Quang Minh Giác Bồ tát...

Năm trăm đại Bồ tát như vậy câu hội. Những Bồ tát nầy thảy đều thành tựu hạnh nguyện Phổ Hiền cảnh giới vô ngại, vì cùng khắp tất cả cõi Phật. Hiện thân vô lượng, vì thân cận tất cả chư Như Lai. Tịnh nhãn vô ngại, vì thấy tất cả sự thần biến của chư Phật. Xứ đến vô hạn, vì hằng khắp đến chỗ của tất cả Như Lai thành Chánh giác. Quang minh vô tế, vì trí huệ quang chiếu khắp tất cả thiệt pháp hải. Thuyết pháp vô tận, vì thanh tịnh biện tài vô biên tế kiếp không cùng tận. Khắp hư không giới, vì trí huệ có ra đều thanh tịnh. Không chỗ y chỉ, vì tùy tâm chúng sanh hiện sắc thân. Diệt trừ mê lòa, vì rõ chúng sanh giới không chúng sanh. Trí khắp hư không, vì dùng lưới đại quang minh chiếu pháp giới.

Hàng Thanh văn năm trăm vị câu hội. Những vị nầy đều giác ngộ chơn đế, đều chứng thiệt tế, thâm nhập pháp tánh, thoát hẳn biển hữu lậu, nương Phật công đức, lìa sự trói buộc của kiết sử, trụ chỗ vô ngại. Tâm các Ngài tịch tịnh như hư không. Ở chỗ chư Phật, dứt hẳn nghi lầm. Nơi trí chư Phật, tin sâu thâm nhập.

Cùng với vô lượng Thế Chủ câu hội. Những Thế Chủ nầy đều đã từng cúng dường vô lượng chư Phật. Thường hay lợi ích tất cả chúng sanh, làm bạn chẳng mời thỉnh. Hằng siêng thủ hộ thệ nguyện chẳng bỏ chúng sanh. Ðã nhập thế gian thù thằng trí môn. Từ Phật giáo sanh. Hộ Phật chánh pháp. Phát đại nguyện chẳng để dứt Phật chủng. Sanh nhà Như Lai cầu Nhứt thiết trí.

Bấy giờ, chư đại Bồ tát, đại đức Thanh văn, những Chủ thế gian và quyến thuộc đều nghĩ rằng: Cảnh giới của Như Lai, trí hạnh của Như Lai, gia trì của Như Lai, lực của Như Lai, vô úy của Như Lai, tam muội của Như Lai, sở trụ của Như Lai, tự tại của Như Lai, thân của Như Lai, trí của Như Lai, tất cả thế gian chư Thiên cùng người đời không thông đạt được, không xu nhập được, không tín giải được, không rõ biết được, không nhẫn thọ được, không quán sát được, không giản trạch được, không khai thị được, không tuyên minh được. Không ai có thể làm cho chúng sanh hiểu rõ. Chỉ trừ sức gia bị của chư Phật, sức thần thông của Phật, sức oai đức của Phật, sức bổn nguyện của Phật và sức thiện căn đời trước của họ, sức nhiếp thọ của thiện tri thức, sức tịnh tín sâu, sức minh giải lớn, sức tâm thanh tịnh xu hướng Bồ đề, sức nguyện rộng lớn cầu Nhứt thiết trí. Cúi xin đức Thế Tôn tùy thuận chúng tôi và những dục giải của các chúng sanh, những trí, những ngôn ngữ, những tự tại, những trụ địa, những căn thanh thịnh, những ý phương tiện, những tâm cảnh giới, những y chỉ công đức của Như Lai, những pháp đã được nghe thọ của chúng tôi và các chúng sanh mà hiển thị đức Như Lai: Thuở xưa xu cầu tâm Nhứt thiết trí, thuở xưa phát khởi đại nguyện Bồ tát, thuở xưa tu tịnh những môn ba la mật, thuở xưa đã nhập những bực Bồ tát, thuở xưa viên mãn những hạnh Bồ tát, thuở xưa thành tựu phương tiện, thuở xưa tu hành những đạo, thuở xưa chứng được pháp xuất ly, thuở xưa đã làm những sự thần thông, thuở xưa đã có bổn sự nhơn duyên, đến thành Ðẳng Chánh Giác, chuyển diệu pháp luân, tịnh Phật quốc độ, điều phục chúng sanh, mở thành pháp Nhứt thiết trí, chỉ đường tất cả chúng sanh, nhập chỗ ở của tất cả chúng sanh, thọ sự cúng dường của tất cả chúng sanh, vì tất cả chúng sanh mà nói công đức bố thí, vì tất cả chúng sanh mà hiện ảnh tượng của chư Phật. Những pháp như vậy, xin đức Phật vì chúng tôi mà giải thuyết.

Bấy giờ, đức Thế Tôn biết tâm niệm của chư Bồ tát, liền dùng đại bi làm thân, đại bi làm môn, đại bi làm đầu, dùng pháp đại bi mà làm phương tiện, đầy khắp hư không, nhập Sư tử tần thân tam muội.

Khi đức Thế Tôn nhập tam muội nầy rồi, tất cả thế gian đều khắp nghiêm tịnh. Liền đó, lâu các đại trang nghiêm bỗng nhiên rộng rãi không có ngằn mé, kim cang làm đất, bửu vương che phía trên, vô lượng bửu hoa và những châu ma ni rải đầy khắp trong lầu, lưu ly làm cột, các thứ báu hiệp thành, trang nghiêm với đại quang ma ni, vàng diêm phù đàn, như ý bửu vương trùm khắp phía trên nghiêm sức. Lầu cao thành dãy, đường gác kèm bên. Kèo mái nương nhau, cửa nẻo thông nhau. Thềm, bực, hiên, bao lơn đều đầy đủ. Tất cả đều trang nghiêm với diệu bửu. Những bửu ấy đều làm hình tượng nhơn Thiên, kiên cố đẹp lạ đệ nhứt thế gian. Lưới báu ma ni che khắp phía trên. Bên cửa đều dựng tràng phan, đều phóng quang minh cùng khắp pháp giới. Ngoài đạo tràng, thềm cấp lan can nhiều vô lượng không thể kể nói, đều bằng ngọc ma ni.

Lúc đó, lại do thần lực của Phật, rừng Thệ Ða bỗng nhiên rộng rãi đồng với bất khả thuyết Phật sát vi trần số quốc độ. Tất cả diệu bửu xen lẫn trang nghiêm. Bất khả thuyết bửu trải khắp mọi nơi. Vô số bửu làm tường rào. Cây đa la báu trang nghiêm bên đường.

Trong rừng lại có vô lượng hương hà, đầy những nước thơm sóng gợn xoay quanh. Tất cả hoa báu theo dòng chuyển về phía hữu, tự nhiên diễn ra âm thanh Phật pháp. Bất tư nghì bạch liên hoa báu búp nở thơm tho giăng bày trên mặt nước. Những cây hoa báu trồng hàng bên bờ sông. Bất tư nghì những đài, nhà mát xếp hàng trên bờ sông, lưới báu ma ni che trùm. Vô số báu phóng đại quang minh. Vô số báu trang nghiêm mặt đất. Ðốt những diệu hương mùi thơm ngào ngạt.

Lại dựng vô lượng bửu tràng. Những là: Bửu hương tràng, bửu y tràng, bửu phan tràng, bửu thắng tràng, bửu hoa tràng, bửu anh lạc tràng, bửu man tràng, bửu linh tràng, ma ni bửu cái tràng, đại ma ni bửu tràng, quang minh biến chiếu ma ni bửu tràng, xuất nhứt thiết Như Lai danh hiệu âm thanh ma ni vương tràng, sư tử ma ni vương tràng, thuyết nhứt thiết Như Lai bổn sự hải ma ni vương tràng, hiện nhứt thiết pháp giới ảnh tượng ma ni vương tràng. Những bửu tràng nầy bày hàng trang nghiêm cùng khắp mười phương.

Bấy giờ, trong hư không trên rừng Thệ Ða có bất tư nghì Thiên cung điện vân, vô số hương thọ vân, bất khả thuyết Tu Di sơn vân, bất khả thuyết kỹ nhạc vân phát ra tiếng hay diệu ca ngợi đức Như Lai, bất khả thuyết bửu Liên hoa vân, bất khả thuyết bửu tòa vân trải Thiên y Bồ tát ngồi trên đó ca ngợi công đức của Phật, bất khả thuyết Thiên vương hình tượng ma ni bửu vân, bất khả thuyết bạch chơn châu vân, bất khả thuyết xích châu lâu các trang nghiêm cụ vân, bất khả thuyết vũ kim cang kiên cố châu vân. Những bửu vân nầy đều dừng ở hư không bao vòng cùng khắp để trang nghiêm.

Tại sao vậy?

Vì thiên căn của đức Như Lai bất tư nghì. Vì bạch pháp của đức Như Lai bất tư nghì. Vì oai lực của đức Như Lai bất tư nghì. Vì đức Như Lai có thể dùng một thân tự tại biến hóa khắp tất cả thế giới bất tư nghì. Vì đức Như Lai có thể dùng thần lực làm cho tất cả Phật và Phật quốc trang nghiêm đều nhập vào thân mình bất tư nghì. Vì đức Như Lai có thể ở trong một vi trần hiện khắp ảnh tượng tất cả pháp giới bất tư nghì. Vì đức Như Lai có thể ở trong một lỗ lông thị hiện quá khứ tất cả chư Phật bất tư nghì. Vì đức Như Lai tùy phóng mỗi một quang minh đều có thể chiếu khắp tất cả thế giới bất tư nghì. Vì đức Như Lai có thể ở trong một lỗ lông phát ra tất cả Phật sát vi trần số biến hóa vân đầy khắp tất cả chư Phật quốc độ bất tư nghì. Vì đức Như Lai có thể ở trong một lỗ lông hiện khắp tất cả thế giới mười phương thành, trụ, hoại kiếp bất tư nghì.

Như ở tại rừng Thệ Ða vườn cấp Cô Ðộc thấy Phật quốc thanh tịnh trang nghiêm, mười phương tất cả pháp giới hư không giới, tất cả thế giới cũng đều thấy như vậy.

Những là thấy thân đức Như Lai ở rừng Thệ Ða, chúng hội Bồ tát thảy đều cùng khắp. Thấy khắp nơi mưa những mây trang nghiêm. Thấy khắp nơi mưa những mây bửu quang minh chiếu sáng. Thấy khắp nơi mưa những mây ma ni bửu. Thấy khắp nơi mưa những mây lọng trang nghiêm che trùm cõi Phật. Thấy khắp nơi mưa những mây Thiên thân. Thấy khắp nơi mưa những mây hoa thọ. Thấy khắp nơi mưa những mây y thọ. Thấy khắp nơi mưa những mây bửu man anh lạc nối tiếp chẳng dứt cùng khắp tất cả đại địa. Thấy khắp nơi mưa những mây đồ trang nghiêm. Thấy khắp nơi mưa những mây thơm hình chúng sanh. Thấy khắp nơi mưa những mây lưới hoa báu vi diệu tiếp nối chẳng ngớt. Thấy khắp nơi mưa những mây chư Thiên nữ cầm tràng phan báu đi qua lại ở trong hư không. Thấy khắp nơi mưa những mây bửu liên hoa, ở trong cánh hoa tự nhiên phát ra những tiếng nhạc. Thấy khắp nơi mưa những mây tòa sư tử lưới báu anh lạc dùng trang nghiêm.

Lúc đó, phương đông qua khỏi bất khả thuyết Phật sát vi trần số thế giới hải, có thế giới tên là Kim Ðăng Vân Tràng. Ðức Phật nơi đó hiệu là Tỳ Lô Giá Na Thắng Ðức Vương. Trong chúng hội của đức Phật đó có Bồ tát hiệu là Tỳ Lô Giá Na Nguyện Quang Minh, cùng bất khả thuyết Phật sát vi trần số Bồ tát câu hội đến chỗ đức Phật, đều dùng thần lực hiện những lùm mây: Mây thiên hoa, mây thiên hương, mây thiên mạt hương, mây thiên man, mây thiên bửu, mây thiên trang nghiêm cụ, mây thiên bửu cái, mây thiên vi diệu y, mây thiên bửu tràng phan, mây những diệu bửu trang nghiêm đầy dẫy hư không.

Ðến chỗ đức Phật rồi, chư Bồ tát đảnh lễ chân Phật. Liền ở nơi phương đông hóa làm lâu các bửu trang nghiêm và tòa sư tử bửu liên hoa tạng chiếu khắp mười phương. Lưới như ý bửu choàng trên thân. Rồi cùng quyến thuộc ngồi kiết già trên đó.

Phương nam qua khỏi bất khả thuyết Phật sát vi trần số thế giới hải, có thế giới tên là Kim Cang Tạng. Ðức Phật nơi đó hiệu là Phổ Quang Minh Vô Thắng Tạng Vương. Trong chúng hội của đức Phật đó, có Bồ tát hiệu là Bất Khả Hoại Tinh Tấn Vương, cùng bất khả thuyết Phật sát vi trần số Bồ tát câu hội đến chỗ đức Phật, đồng cầm những lưới bửu hương, những bửu anh lạc, những bửu hoa đới, những bửu man đới, những kim cang anh lạc, những lưới bửu ma ni, những bửu y đới, những bửu anh lạc đới, những thắng quang minh ma ni đới, những sư tử ma ni bửu anh lạc. Ðều dùng thần lực làm cho những bửu vật trên đầy khắp tất cả thế giới hải.

Ðến chỗ đức Phật rồi, chư Bồ tát đảnh lễ chân Phật. Liền ở nơi phương nam hóa làm lâu các biến chiếu thế gian ma ni bửu trang nghiêm và tòa sư tử phổ chiếu thập phương bửu liên hoa tạng. Dùng những lưới bửu hoa choàng trên thân, cùng các quyến thuộc ngồi kiết già trên đó.

Phương tây qua khỏi bất khả thuyết Phật sát vi trần số thế giới hải, có thế giới tên là Ma Ni Bửu Ðăng Tu Di Sơn Tràng. Ðức Phật nơi đó hiệu là Pháp Giới Trí Ðăng. Trong chúng hội của đức Phật đó có Bồ tát hiệu là Phổ Thắng Vô Thượng Oai Ðức Vương, cùng thế giới hải vi trần số Bồ tát câu hội đồng đến chỗ đức Phật. Ðều dùng thần lực hiện bất khả thuyết Phật sát vi trần số những mây Tu Di sơn hương thoa, hương thắp, những mây Tu Di sơn hương thủy nhiều màu, những mây Tu Di sơn quang minh ma ni bửu vương, những mây Tu Di sơn quang diệm luân trang nghiêm tràng, những mây Tu Di sơn kim cang tạng ma ni vương trang nghiêm nhiều màu, những mây Tu Di sơn diêm phù đàn ma ni bửu tràng chiếu khắp tất cả thế giới, những mây Tu Di sơn ma ni bửu hiện tất cả pháp giới, những mây Tu Di sơn ma ni bửu vương hiện tất cả chư Phật tướng hảo, những mây Tu Di sơn ma ni bửu vương hiện bổn sự nhơn duyên của chư Phật nói tất cả công hạnh tu hành của chư Bồ tát, những mây Tu Di sơn ma ni bửu vương hiện tất cả Phật ngồi Bồ đề tràng. Những mây nầy đầy khắp pháp giới.

Ðến chỗ đức Phật rồi, chư Bồ tát đảnh lễ chân đức Phật, liền ở phương tây hóa lâu các nhứt thiết hương vương, lưới báu chơn châu giăng trùm trên đó và hóa tòa sư tử bửu liên hoa tạng tràng bóng Thiên Ðế, dùng lưới ma ni diệu sắc choàng nơi thân, trên đầu trang nghiêm với mão tâm vương bửu, cùng các quyến thuộc ngồi kiết già trên trên tòa đó.

Phương bắc qua khỏi bất khả thuyết Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên là Bửu Y Quang Minh Tràng. Ðức Phật nơi đó hiệu là Chiếu Hư Không Pháp Giới Ðại Quang Minh. Trong chúng hội của đức Phật đó, có Bồ tát hiệu là Vô Ngại Thắng Tạng Vương cùng thế giới hải vi trần số Bồ tát câu hội đồng đến chỗ đức Phật. Đều dùng thần lực hiện những mây bửu y. Những là mây bửu y quang minh màu vàng, những mây bửu y ướp hương, mây bửu y nhựt tràng ma ni vương, mây bửu y kim sắc xí nhiên ma ni, những mây bửu y quang diệm, những mây bửu y ma ni thượng diệu tượng tinh tú, những mây bửu y ma ni bạch ngọc quang, những mây bửu y ma ni thù thắng quang minh biến chiếu, những mây bửu y ma ni oai thế quang minh biến chiếu, những mây bửu y ma ni trang nghiêm hải. Những mây bửu y nầy đầy khắp hư không.

Khi đến chỗ đức Phật, chư Bồ tát đảnh lễ chân Phật, liền ở phương bắc hóa làm lâu các ma ni bửu hải trang nghiêm và tòa sư tử Liên hoa tạng tỳ lưu ly bửu. Dùng lưới ma vi vương sư tử oai đức choàng trên thân. Dùng bửu vương thanh tịnh làm minh châu trang nghiêm trên đầu. Cùng chư quyến thuộc ngồi kiết già trên tòa đó.

Phương đông bắc qua khỏi bất khả thuyết Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên là Nhứt Thiết Hoan Hỷ Thanh Tịnh Quang Minh Võng. Ðức Phật nơi đó hiệu là Vô Ngại Nhãn. Trong chúng hội của đức Phật đó có Bồ tát hiệu là Hóa Hiện Pháp Giới Nguyện Nguyệt Vương, cùng thế giới hải vi trần số Bồ tát câu hội đồng đến chỗ đức Phật, đều dùng thần lực hiện mây lâu các báu, mây lâu các hương, mây lâu các hương đốt, mây lâu các hoa, mây lâu các chiên đàn, mây lâu các kim cang, mây lâu các ma ni, mây lâu các huỳnh kim, mây lâu các bửu y, mây lâu các Liên hoa, che khắp thế giới mười phương.

Khi đã đến chỗ Phật, chư Bồ tát đảnh lễ chân đức Phật, liền ở phương đông bắc hóa làm lâu các đại ma ni pháp giới môn và tòa sư tử liên hoa tạng vô đẳng hương vương, dùng lưới ma ni hoa choàng trên thân, đội mão diệu bửu tạng ma ni vương cùng chư quyến thuộc ngồi kiết già trên tòa đó.

Phương đông nam qua khỏi bất khả thuyết Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới hiệu là Hương Vân Trang Nghiêm Tràng. Ðức Phật nơi đó hiệu là Long Tự Tại Vương. Trong chúng hội của đức Phật đó có Bồ tát hiệu là pháp Huệ Quang Diệm Vương, cùng thế giới hải vi trần số Bồ tát câu hội đồng đến chỗ đức Phật, đều dùng thần lực hiện mây kim sắc viên mãn quang minh, mây vô lượng bửu sắc viên mãn quang minh, mây Như Lai hào tướng viên mãn quang minh, mây những bửu sắc viên mãn quang minh, mây liên hoa tạng viên mãn quang minh, mây bửu thọ chi viên mãn viên quang minh, mây Như Lai đảnh kế viên mãn quang minh, mây diêm phù đàn kim sắc viên mãn quang minh, mây nhựt sắc viên mãn quang minh, mây tinh nguyệt sắc viên mãn quang minh, đầy khắp hư không.

Ðến chỗ đức Phật rồi, chư Bồ tát đảnh lễ chân đức Phật, liền ở phương đông nam hóa làm lâu các Tỳ lô giá na tối thượng bửu quang minh và tòa sư tử kim cang ma ni liên hoa tạng lưới bửu quang diệm ma ni vương choàng trên thân, cùng các quyến thuộc ngồi kiết già trên tòa đó.

Phương tây nam qua khỏi bất khả thuyết Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên là Nhựt Quang Ma Ni Tạng. Ðức Phật nơi đó hiệu là Phổ Chiếu Chư Pháp Trí Nguyệt Vương. Trong chúng hội của đức Phật đó có Bồ tát hiệu là Tồi Phá Nhứt Thiết Ma Quân Trí Tràng Vương, cùng thế giới hải vi trần số Bồ tát câu hội, đồng đến chỗ đức Phật. Ở trong tất cả lỗ lông hiện ra khắp hư không giới mây hoa diệm, mây hương diệm, mây bửu diệm, mây kim cang diệm, mây thiêu hương diệm, mây điển quang diệm, mây Tỳ lô giá na ma ni bửu diệm, mây nhứt thiết kim quang diệm, mây thắng tạng ma ni vương quang diệm, mây đồng tam thế Như Lai hải quang diệm, mỗi mỗi đều từ những lỗ lông hiện ra khắp hư không giới.

Khi đã đến chỗ đức Phật, chư Bồ tát đảnh lễ chân đức Phật, liền ở phương tây nam hóa làm lưới phổ hiện thập phương pháp giới quang minh, lâu các đại ma ni bửu và tòa sư tử hương đăng diệm bửu liên hoa tạng, dùng lưới ly cấu tạng ma ni choàng trên thân, đội mão trang sức bằng xuất nhứt thiết chúng sanh phát thu âm ma ni vương,
cùng các quyến thuộc ngồi kiết già trên tòa đó.

Phương tây bắc qua khỏi bất khả thuyết Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên là Tỳ Lô Giá Na Nguyện Ma Ni Vương Tạng. Ðức Phật nơi đó hiệu là Phổ Quang Minh Tối Thắng Tu Di Vương. Trong chúng hội của đức Phật đó có Bồ tát hiệu là Nguyện Trí Quang Minh Tràng, cùng thế giới hải vi trần số Bồ tát câu hội đồng đến chỗ đức Phật. Trong khoảng mỗi niệm, nơi tất cả tướng hảo, tất cả lỗ lông, tất cả thân phần đều hiện ra mây hình tượng tất cả tam thế Như Lai, mây hình tượng tất cả Bồ tát, mây hình tượng chúng hội của tất cả Như Lai, mây hình tượng thân biến hóa của tất cả Như Lai, mây hình tượng thân bổn sanh của tất cả Như Lai, mây hình tượng tất cả Thanh văn, Bích chi Phật, mây hình tượng Bồ đề tràng của tất cả Như Lai, mây hình tượng thần biến của tất cả Như Lai, mây hình tượng tất cả thế gian chủ, mây hình tượng tất cả quốc độ thanh tịnh, đầy khắp hư không.

Khi đã đến chỗ đức Phật, chư Bồ tát đảnh lễ chân Phật, liền ở phương tây bắc hóa làm lâu các ma ni bửu trang nghiêm phổ chiếu thập phương và tòa sư tử bửu liên hoa tạng phổ chiếu thế gian. Dùng lưới chơn châu vô năng thắng quang minh choàng trên thân, đội mão phổ quang minh ma ni bửu, cùng các quyến thuộc ngồi kiết già trên tòa đó.

Hạ phương qua khỏi bất khả thuyết Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên là Nhứt Thiết Như Lai Viên Mãn Quang Phổ Chiếu. Ðức Phật nơi đó hiệu là Hư Không Vô Ngại Tướng Trí Tràng Vương. Trong chúng hội của đức Phật đó có Bồ tát hiệu là Phá Nhứt Thiết Chướng Dũng Mãnh Trí Vương, cùng thế giới hải vi trần số Bồ tát câu hội đồng đến chỗ đức Phật. Trong tất cả lỗ lông hiện ra mây âm thanh nói ngữ ngôn hải của tất cả chúng sanh, mây âm thanh nói tu hành phương tiện hải của tất cả tam thế Bồ tát, mây âm thanh nói phát nguyện phương tiện hải của tất cả Bồ tát, mây âm thanh nói tất cả Bồ tát thành mãn thanh tịnh ba la mật phương tiện hải, mây âm thanh nói tất cả Bồ tát viên mãn hạnh khắp tất cả cõi, mây âm thanh nói tất cả Bồ tát thành tựu tự tại dụng, mây âm thanh nói tự tại dụng của tất cả Như Lai qua ngồi đạo tràng phá chúng ma quân thành Ðẳng Chánh Giác, mây âm thanh nói tất cả Như Lai chuyển pháp luân khế kinh: Môn danh hiệu hải, mây âm thanh nói tất cả pháp phương tiện hải tùy cơ giáo hóa điều phục chúng sanh, mây âm thanh nói tất cả phương tiện hải tùy thời tùy thiện căn tùy nguyện lực khiến khắp chúng sanh chứng được trí huệ.

Khi đã đến chỗ đức Phật, chư Bồ tát đảnh lễ chân đức Phật, liền ở hạ phương hóa làm lâu các chúng bửu trang nghiêm hiện hình tượng cung điện của tất cả Như Lai và tòa sư tử bửu liên hoa tạng, đội mão phổ hiện đạo tràng ảnh ma ni bửu, cùng các quyến thuộc ngồi kiết già trên tòa đó.

Thượng phương qua khỏi bất khả thuyết Phật sát vi trần số thế giới hải, có thế giới tên là Thuyết Phật Chủng Tánh Vô Hữu Tận. Ðức Phật nơi đó hiệu là Phổ Trí Luân Quang Minh Âm. Trong chúng hội của đức Phật đó có Bồ tát hiệu là Pháp Giới Sai Biệt Nguyện, cùng thế giới hải vi trần số Bồ tát câu hội đồng đến chỗ đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Nơi tất cả tướng hảo, tất cả lỗ lông, tất cả thân phần, tất cả chi tiết, tất cả đồ trang nghiêm, tất cả y phục hiện ra tất cả chư Phật quá khứ như đức Tỳ Lô Giá Na, v.v…, tất cả chư Phật vị lai hoặc đã được thọ ký hay chưa được thọ ký, hiện tại mười phương tất cả quốc độ tất cả chư Phật và chúng hội. Cũng hiện ra những bổn sự hải thực hành đàn ba la mật và tất cả người thọ bố thí thuở quá khứ. Cũng hiện ra những bổn sự hải thực hành thi ba la mật thuở quá khứ. Cũng hiện những bổn sự hải thuở quá khứ thực hành nhẫn nhục ba la mật, cắt đứt chi thể tâm không động loạn. Cũng hiện những bổn sự hải thuở quá khứ thực hành tinh tấn ba la mật dũng mãnh bất thối. Cũng hiện những bổn sự hải thuở quá khứ cầu Như Lai thiền ba la mật hải mà được thành tựu. Cũng hiện những bổn sự hải thuở quá khứ cầu chư Phật chuyển pháp luân mà được thành tựu pháp phát tâm dũng mãnh tất cả đều xả bỏ. Cũng hiện những bổn sự hải thuở quá khứ thích thấy chư Phật, thích hành Bồ tát đạo, thích giáo hóa chúng sanh. Cũng hiện những bổn sự hải thuở quá khứ những Bồ tát đại nguyện thanh tịnh trang nghiêm. Cũng hiện những bổn sự hải thuở quá khứ chư Bồ tát thành lực ba la mật dũng mãnh thanh tịnh. Cũng hiện những bổn sự hải thuở quá khứ tất cả Bồ tát tu viên mãn trí ba la mật. Tất cả những bổn sự hải như vậy thảy đều đầy khắp quảng đại pháp giới.

Khi đã đến chỗ đức Phật, chư Bồ tát đảnh lễ chân đức Phật, liền ở thượng phương hóa làm lâu các kim cang tạng trang nghiêm và tòa sư tử liên hoa tạng đế thanh kim cang vương, dùng lưới bửu quang minh ma ni vương choàng trên thân, dùng ma ni bửu vương diễn thuyết tam thế Như Lai danh hiệu làm minh châu trên mão. Cùng các quyến thuộc ngồi kiết già trên tòa đó.

Mười phương tất cả Bồ tát và quyến thuộc đều từ trong hạnh nguyện của Phổ Hiền Bồ tát mà sanh, dùng trí nhãn thanh tịnh thấy tam thế Phật, khắp nghe tu đa la hải của chư Phật chuyển pháp luân, đã được đến nơi tất cả Bồ tát tự tại bỉ ngạn. Trong mỗi niệm hiện đại thần biến. Gần gũi tất cả chư Phật Như Lai. Một thân đầy khắp tất chúng hội đạo tràng của tất cả Như Lai trong tất cả thế giới. Trong mỗi vi trần, hiện khắp tất cả cảnh giới thế gian. Giáo hóa thành tựu tất cả chúng sanh chưa từng lỗi thời. Trong một lỗ lông phát ra âm thanh thuyết pháp của tất cả Như Lai. Biết tất cả chúng sanh thảy đều như huyễn. Biết tất cả đức Phật thảy đều như ảnh. Biết tất cả loài thọ sanh thảy đều như mộng. Biết tất cả nghiệp báo thảy đều như tượng trong gương. Biết tất cả những gì có sanh khởi thảy đều như ánh nắng gắt. Biết tất cả thế giới đều như biến hóa. Thành tựu thập lực vô úy của đức Như Lai. Dũng mãnh tự tại có thể làm sư tử hống. Vào sâu trong biển cả vô tận biện tài, được các pháp trí ngôn từ hải của tất cả chúng sanh. Nơi hư không pháp giới, việc làm vô ngại. Biết tất cả pháp không chướng ngại. Tất cả Bồ tát thần thông cảnh giới đều đã thanh tịnh. Dũng mãnh tinh tấn xô dẹp ma quân. Hằng dùng trí huệ thấu rõ tam thế. Biết tất cả pháp dường như hư không, chẳng có nghịch trái cũng không chấp lấy. Dầu siêng tinh tấn mà biết Nhứt thiết trí trọn không chỗ đến. Dầu quán cảnh giới mà biết tất cả những gì có đều là bất khả đắc. Dùng trí phương tiện nhập tất cả pháp giới. Dùng trí bình đẳng nhập tất cả quốc độ. Dùng sức tự tại khiến tất cả thế giới xoay vần nhập nhau. Xứ xứ thọ sanh trong tất cả thế giới. Thấy những loại hình tướng của tất cả thế giới. Nơi cảnh vi tế hiện cõi quảng đại. Nơi cảnh quảng đại hiện cõi vi tế. Nơi một chỗ đức Phật, trong khoảng một niệm được tất cả đức Phật oai thần gia hộ. Thấy khắp mười phương không bị mê lầm. Trong khoảng sát na đều có thể qua đến.

Tất cả Bồ tát có công đức trí huệ vô biên như vậy ngồi đầy trong rừng Thệ Ða. Ðây là nương thần lực của đức Như Lai.

Lúc đó, chư thượng thủ đại Thanh văn các trưởng lão: Xá Lợi Phất, đại Mục Kiền Liên, Ma ha Ca Diếp, Ly Bà Ða, Tu Bồ Ðề, A Nâu Lâu Ðà, Nan Ðà, Kiếp Tân Na, Ca Chiên Diên, Phú Lâu Na, v.v… Chư đại Thanh văn nầy ở tại rừng Thệ Ða mà đều chẳng thấy thần lực của Như Lai. Chẳng thấy sự nghiêm hảo của Như Lai. Chẳng thấy cảnh giới của Như Lai. Chẳng thấy sự du hý của Như Lai. Chẳng thấy sự thần biến của Như Lai. Chẳng thấy sự tôn thắng của Như Lai. Chẳng thấy sự diệu hạnh và oai đức của Như Lai. Chẳng thấy sự trụ trì của Như Lai. Chẳng thấy cõi thanh tịnh của Như Lai. Lại cũng chẳng thấy cảnh giới Bồ tát bất tư nghì, Bồ tát đại hội, Bồ tát phổ nhập, Bồ tát phổ chí, Bồ tát phổ nghệ, Bồ tát thần biến, Bồ tát du hý, Bồ tát quyến thuộc, Bồ tát phương sở, Bồ tát trang nghiêm sư tử tòa, Bồ tát cung điện, Bồ tát trụ xứ, Bồ tát nhập tam muội tự tại, Bồ tát quán sát, Bồ tát tần thân, Bồ tát dũng mãnh, Bồ tát cúng dường, Bồ tát thọ ký, Bồ tát thành thục, Bồ tát dũng kiện, Bồ tát pháp thân thanh tịnh, Bồ tát trí thân viên mãn, Bồ tát nguyện thân thị hiện, Bồ tát sắc thân thành tựu, Bồ tát tướng hảo cụ túc thanh tịnh, Bồ tát quang minh thường nhiều màu trang nghiêm, Bồ tát phóng lưới đại quang minh, Bồ tát khởi mây biến hóa, Bồ tát thân khắp mười phương, Bồ tát các hạnh viên mãn. Những sự như vậy, tất cả Thanh văn, đại A la hán thảy đều không thấy.

Tại sao vậy? Vì thiện căn chẳng đồng. Vì vốn không tu tập thiện căn thấy Phật tự tại. Vì vốn chẳng khen nói công đức thanh tịnh của tất cả Phật độ ở mười phương. Vì vốn chẳng ca ngợi những thần biến của chư Phật Thế Tôn. Vì vốn chẳng ở trong sanh tử phát tâm Vô thượng Bồ đề. Vì vốn chẳng làm cho kẻ khác phát tâm Bồ đề. Vì vốn chẳng có thể làm cho chủng tánh Như Lai không đoạn tuyệt. Vì vốn chẳng nhiếp thọ chúng sanh. Vì vốn chẳng khuyên kẻ khác tu hạnh ba la mật của Bồ tát. Vì lúc ở trong sanh tử lưu chuyển, vốn chẳng khuyên bảo chúng sanh cầu đại trí nhãn tối thắng. Vì vốn chẳng tu tập thiện căn phát sanh Nhứt thiết trí. Vì vốn chẳng thành tựu thiện căn xuất thế của Như Lai. Vì vốn chẳng được trí thần thông nghiêm tịnh Phật độ. Vì vốn chẳng được cảnh sở tri của Bồ tát nhãn. Vì vốn chẳng cầu những thiện căn siêu xuất thế gian bất cộng Bồ đề. Vì vốn chẳng phát Bồ tát đại nguyện. Vì sanh ra vốn chẳng từ sự gia bị của đức Như Lai. Vì vốn chẳng biết tất cả pháp như huyễn, chư Bồ tát như mộng. Vì vốn chẳng được sự hoan hỷ quảng đại của chư đại Bồ tát. Những điều trên đây đều là cảnh giới trí nhãn Phổ Hiền Bồ tát chẳng cùng chung với tất cả hàng Nhị thừa. Do cớ nầy, nên chư đại Thanh văn không thấy được, chẳng biết được, chẳng nghe được, chẳng nhập được, chẳng chứng được, chẳng niệm được, chẳng quán sát được, chẳng tính lường được, chẳng tư duy được, chẳng phân biệt được. Thế nên dầu cũng ở trong rừng Thệ Ða mà chẳng thấy được những đại thần biến của Như Lai.

Lại vì chư đại Thanh văn không có thiện căn như vậy, không có trí nhãn như vậy, không có tam muội như vậy, không có giải thoát như vậy, không có thần thông như vậy, không có oai đức như vậy, không có thế lực như vậy, không có tự tại như vậy, không có trụ xứ như vậy, không có cảnh giới như vậy, vì thế nên ở nơi đây không biết được, không thấy được, không nhập được, không chứng được, không trụ được, không hiểu được, không quán sát được, không nhẫn thọ được, không xu hướng được, không noi theo được.

Lại cũng vì chẳng có thể vì người khác mà khai diễn giải thoát, tán thán thị hiện, dắt dìu khuyến tấn, cho họ xu hướng, cho họ tu tập, cho họ an trụ, cho họ chứng nhập.

Tại sao vậy? Vì chư đại đệ tử y theo Thanh văn thừa mà xuất ly, thành tựu Thanh văn đạo, đầy đủ Thanh văn hạnh, an trụ Thanh văn quả. Nơi chơn đế vô hữu được quyết định trí, trụ luôn nơi thiệt tế rốt ráo tịch tịnh. Lìa xa đại bi, bỏ các chúng sanh an trụ nơi việc của mình. Nơi trí huệ kia chẳng chứa nhóm được, chẳng tu hành được, chẳng an trụ được, chẳng nguyện cầu được, chẳng thành tựu được, chẳng thanh tịnh được, chẳng xu nhập được, chẳng thông đạt được, chẳng thấy biết được, chẳng chứng đắc được. Vì thế nên dầu ở trong rừng Thệ Ða mà chẳng thấy được thần biến quảng đại của đức Như Lai.

Chư Phật tử! Như ở bờ sông Hằng, có trăm ngàn ức vô lượng ngạ quỷ lõa lồ đói khát, khắp mình lửa cháy. Những quạ, kên kên, chó sói đua nhau rượt bắt. Các ngạ quỷ nầy vì quá khát muốn tìm nước uống, nhưng dầu ở bên sông mà chẳng thấy nước. Cũng có kẻ thấy sông nhưng lại thấy khô cạn.

Tại sao vậy? Vì các ngạ quỷ nầy bị nghiệp chướng sâu nặng che mờ.

Cũng vậy, chư đại Thanh văn dầu đến ở trong rừng Thệ Ða mà chẳng thấy thần lực quảng đại của đức Như Lai. Vì bỏ Nhứt thiết chủng trí, bị màn vô minh che lòa đôi mắt. Vì chẳng từng gieo trồng những thiện căn Nhứt thiết chủng trí.

Ví như có người ở giữa đại hội ngủ say, chiêm bao thấy trên đảnh núi Tu Di, Thiên Ðế ngự nơi thành Thiện Kiến, cung điện vườn cây các thứ nghiêm tốt. Ngàn muôn ức Thiên tử Thiên nữ. Thiên hoa rải khắp mọi nơi. Những y thọ sanh ra y phục đẹp. Những hoa thọ đơm nở hoa đẹp. Những âm nhạc thọ trỗi Thiên âm nhạc. Những Thiên Thể nữ ca ngâm tiếng tốt. Vô lượng chư Thiên ở trong đó vui chơi. Người nằm mộng nầy tự thấy mặc Thiên y đi dạo khắp Thiên cung. Ở trong đại hội tất cả mọi người dầu đồng ở một chỗ mà chẳng thấy, chẳng biết cảnh giới Thiên cung như vậy.

Cũng vậy, tất cả Bồ tát vì từ lâu chứa nhóm thiện căn, vì phát nguyện quảng đại cầu Nhứt thiết chủng trí, vì học tập tất cả Phật công đức, vì tu hành đạo trang nghiêm của Bồ tát, vì viên mãn pháp Nhứt thiết chủng trí, vì đầy đủ những hạnh nguyện Phổ Hiền, vì xu nhập trí địa của tất cả Bồ tát, vì du hý những tam muội sở trụ của tất cả Bồ tát, vì đã có thể quán sát cảnh giới trí huệ của tất cả Bồ tát không chướng ngại. Do đây nên đều thấy thần biến tự tại bất tư nghì của Như Lai Thế Tôn. Tất cả Thanh văn đều chẳng thấy được, đều chẳng biết được, vì không có thanh tịnh nhãn của Bồ tát.

Ví như núi Tuyết đủ những dược thảo. Lương y đến đó đều có thể phân biệt biết. Còn những thợ săn, những người chăn súc vật thường ở trên đó mà chẳng thấy biết được thuốc hay.

Ðây cũng như vậy, bởi chư Bồ tát nhập trí cảnh giới đủ sức tự tại, có thể thấy thần biến quảng đại của đức Như Lai. Chư Thanh văn đại đệ tử chỉ cầu tự lợi chẳng muốn lợi tha, chỉ cầu tự an chẳng muốn an tha, nên dầu ở trong rừng Thệ Ða mà chẳng thấy chẳng biết.

Ví như trong đất có mỏ thất bửu. Nhà bác học trí huệ sáng suốt, có thể khéo phân biệt biết thấy những mỏ báu đó. Người nầy có đại phước đức nên tùy ý lấy dùng tự tại: Phụng dưỡng cha mẹ, cung cấp kẻ nghèo bịnh cơ hàn cô độc. Những người không trí huệ, không phước đức, dầu cũng đến chỗ mỏ báu mà chẳng biết, chẳng thấy, chẳng được lợi ích.

Cũng vậy, chư đại Bồ tát có trí nhãn thanh tịnh có thể nhập cảnh giới thậm thâm bất tư nghì, thấy được thần lực của Phật, nhập được các pháp môn, du hành được tam muội hải, hay cúng dường chư Phật, hay dùng chánh pháp khai ngộ chúng sanh, hay dùng tứ nhiếp pháp nhiếp thọ chúng sanh.

Chư đại Thanh văn chẳng thấy được thần lực của chư Phật, cùng chẳng thấy được chúng Bồ tát. Ví như người mù đến chỗ châu báu, hoặc đi, hoặc đứng, hoặc ngồi, hoặc nằm vẫn chẳng thấy được châu báu. Vì không thấy nên không lấy được, chẳng dùng được.

Ðây cũng như vậy, chư đại đệ tử Thanh văn dầu ở rừng Thệ Ða thân cận đức Thế Tôn mà chẳng thấy thần lực tự tại của đức Thế Tôn, cũng chẳng thấy được đại hội Bồ tát. Vì không có tịnh nhãn vô ngại của đại Bồ tát, nên chẳng có thể thứ đệ ngộ nhập pháp giới thấy thần lực tự tại của đức Như Lai.

Ví như có người được thanh tịnh nhãn gọi là Ly cấu quang minh, tất cả màu tối không làm chướng được. Bấy giờ, ở trong đêm tối có vô lượng ức người, hoặc đi, hoặc đứng, hoặc ngồi, hoặc nằm, hình tướng oai nghi. Người nầy ở trong đại chúng đó đều thấy biết rõ ràng. Còn đại chúng đó lại không thấy biết oai nghi tấn thối của người minh nhãn nầy.

Cũng vậy, đức Phật thành tựu trí nhãn thanh tịnh vô ngại thấy rõ tất cả thế gian. Ðức Phật thị hiện thần thông biến hóa, chúng đại Bồ tát câu hội. Hàng đại đệ tử Thanh văn đều chẳng thấy được.

Ví như Tỳ kheo ở giữa đại chúng nhập biến xứ định. Những là địa biến xứ định, thủy biến xứ định, hỏa biến xứ định, phong biến xứ định, thanh biến xứ định, huỳnh biến xứ định, xích biến xứ định, bạch biến xứ định, thiên biến xứ định, chúng sanh thân biến xứ định, ngữ ngôn âm thanh biến xứ định, cảnh duyên biến xứ định. Người nhập định nầy thấy những cảnh đó. Những người khác không thấy được. Chỉ trừ người trụ trong chánh định nầy. Cũng vậy, đức Như Lai hiện Phật cảnh giới bất tư nghì, Bồ tát thấy cả, Thanh văn chẳng thấy.

Ví có người dùng thuốc ẩn thân tự thoa lên mắt, ở trong chúng hội tới lui ngồi đứng, không ai thấy được. Người nầy thì thấy tất cả những sự trong đại chúng. Cũng vậy, đức Như Lai siêu quá thế gian, thấy khắp thế gian. Chẳng phải hàng Thanh văn thấy được. Chỉ trừ chư đại Bồ tát xu hướng cảnh giới Nhứt thiết trí.

Như người khi đã sanh ra thì có hai thiên thần hằng theo kề. Một thiên thần hiệu Ðồng Sanh. Một thiên thần hiệu Ðồng Danh. Thiên thần thường thấy người. Người thì chẳng thấy được thiên thần. Cũng vậy, đức Như Lai ở trong đại hội Bồ tát hiện đại thần thông. Chư đại Thanh văn đều chẳng thấy được.

Ví như Tỳ kheo được tâm tự tại nhập diệt tận định, sáu căn chẳng hiện hành, chẳng hay, chẳng biết tất cả ngữ ngôn. Vì định lực chấp trì nên chẳng nhập diệt. Cũng vậy, tất cả đại Thanh văn dầu ở tại rừng Thệ Ða, đủ cả sáu căn mà đối với những sự tự tại của Như Lai cùng chúng hội Bồ tát, chẳng biết, chẳng thấy, chẳng hay, chẳng nhập.

Tại sao vậy? Vì cảnh giới của đức Như Lai thậm thâm quảng đại, khó thấy, khó biết, khó suy, khó lường. Siêu xuất thế gian chẳng thể nghĩ bàn, chẳng gì làm hoại được. Chẳng phải cảnh giới của hàng Nhị thừa. Vì thế nên Như Lai tự tại thần lực và chúng hội Bồ tát cùng rừng Thệ Ða, cùng khắp tất cả thanh tịnh thế giới. Những sự như vậy, chư đại Thanh văn đều chẳng thấy biết, vì họ chẳng phải căn khí nầy.

Lúc đó, Tỳ Lô Giá Na Nguyện Quang Minh Bồ tát, thừa Phật thần lực, quán sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Các Ngài nên quán sát

Phật đạo bất tư nghì

Nơi rừng Thệ Ða nầy

Thị hiện thần thông lực.

Oai thần lực của Phật

Biến hiện vô ương số

Tất cả các thế gian

Mê lầm chẳng rõ được.

Pháp Vương pháp thâm diệu

Vô lượng khó nghĩ bàn

Hiện ra những thần thông

Thế gian chẳng lường được.

Vì biết pháp vô tướng

Thế nên gọi là Phật

Mà đủ tướng trang nghiêm

Xưng dương chẳng thể hết.

Nay ở trong rừng nầy

Thị hiện đại thần lực

Rất sâu vô biên lượng

Ngôn từ không biện được.

Ngài xem đại oai đức

Vô lượng chúng Bồ tát

Mười phương những quốc độ

Mà đến thấy Thế Tôn.

Chỗ nguyện đều đầy đủ

Chỗ làm không chướng ngại

Tất cả các thế gian

Không ai suy lường được.

Tất cả chư Duyên giác

Và đại Thanh văn kia.

Thảy đều chẳng biết được

Bồ tát hạnh cảnh giới.

Bồ tát đại trí huệ

Các địa đều rốt ráo

Dựng cao tràng dũng mãnh

Khó xô khó động được.

Những bực Đại danh xưng

Vô lượng tam muội lực

Hiện ra những thần biến

Pháp giới đều sung mãn.

Bấy giờ, Bất Khả Hoại Tinh Tấn Vương Bồ
tát thừa Phật thần lực quán sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Ngài xem các Phật tử

Trí huệ tạng công đức

Rốt ráo hạnh Bồ đề

An ổn các thế gian.

Tâm Ngài vốn minh đạt

Khéo nhập những tam muội

Trí huệ vô biên tế

Cảnh giới không lường được.

Nay rừng Thệ Ða nầy

Mọi sự đều nghiêm sức

Chúng Bồ tát vân tập

Thân cận bên Như Lai.

Ngài xem vô lượng chúng

Những bực Vô sở trước

Mười phương đến chỗ nầy

Ngồi tòa bửu liên hoa.

Không đến cũng không ở

Không dựa, không hý luận

Tâm ly cấu vô ngại

Rốt ráo nơi pháp giới.

Kiến lập tràng trí huệ

Kiên cố chẳng động lay

Biết pháp không biến hóa

Mà hiện sự biến hóa.

Mười phương vô lượng cõi

Tất cả chỗ chư Phật

Ðồng thời đều qua đến

Mà cũng chẳng phân thân.

Ngài xem Thích Sư Tử

Sức thần thông tự tại

Hay khiến chúng Bồ tát

Tất cả đều đến họp.

Tất cả những Phật pháp

Pháp giới đều bình đẳng

Ngôn thuyết nên chẳng đồng

Chúng nầy đều thông đạt.

Chư Phật thường an trụ

Pháp giới bình đẳng tế

Diễn nói pháp sai biệt

Ngôn từ vô cùng tận.

Bấy giờ, Phổ Thắng Vô Thượng Oai Ðức Vương Bồ tát thừa Phật thần lực quán sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Ngài xem Vô Thượng Sĩ

Trí quảng đại viên mãn

Khéo đạt thời, phi thời

Vì chúng diễn thuyết pháp.

Xô dẹp chúng ngoại đạo

Tất cả những dị luận

Khắp tùy tâm chúng sanh

Vì hiện thần thông lực.

Chánh giác chẳng hữu lượng

Cũng lại chẳng vô lượng

Hoặc lượng, hoặc vô lượng

Mâu Ni đều siêu việt.

Như mặt nhựt trên không

Soi đến tất cả xứ

Phật trí cũng như vậy

Rõ thấu tam thế pháp.

Ví như chánh đêm rằm

Vầng trăng không thiếu khuyết

Như Lai cũng như vậy

Bạch pháp đều viên mãn.

Như mặt nhựt trên không

Vận hành không tạm ngừng

Như Lai cũng như vậy

Thần biến thường tương tục.

Như mười phương quốc độ

Hư không chẳng chướng ngại

Thế Đăng hiện biến hóa

Nơi thế cũng như vậy.

Ví như đất thế gian

Chỗ nương của muôn loại

Chiếu Thế Đăng pháp luân

Làm chỗ nương cũng vậy.

Ví như gió lốc mạnh

Thổi đi không chướng ngại

Phật pháp cũng như vậy

Mau khắp ở thế gian.

Ví như đại thủy luân

Thế giới nương trên đó

Trí huệ luân cũng vậy

Chỗ nương của chư Phật.

Bấy giờ, Vô Ngại Thắng Tạng Vương Bồ tát thừa thần lực của Phật, quán sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Ví như đại bửu sơn

Lợi ích các hàm thức

Phật sơn cũng như vậy

Lợi ích khắp thế gian.

Ví như đại hải thủy

Ðứng sạch không nhơ bợn

Thấy Phật cũng như vậy

Trừ được những khát ái.

Ví như Tu Di sơn

Ở ngay giữa đại hải

Thế Gian Ðăng cũng vậy

Có từ nơi pháp hải.

Như biển đủ châu báu

Người cầu đều đầy đủ

Vô sư trí cũng vậy

Người thấy đều khai ngộ.

Như Lai trí thậm thâm

Vô lượng cũng vô số

Thế nên thần thông lực

Thị hiện khó nghĩ bàn.

Ví như nhà huyễn giỏi

Thị hiện những sự vật

Phật trí cũng như vậy

Hiện những tự tại lực.

Ví như như ý bửu

Hay thỏa mãn ý muốn

Ðấng Tối Thắng cũng vậy

Làm mãn nguyện thanh tịnh.

Ví như minh tịnh bửu

Chiếu khắp tất cả vật

Phật trí cũng như vậy

Chiếu khắp tâm quần sanh.

Ví như bát diện bửu

Soi khắp cả các phương

Vô Ngại Ðăng cũng vậy

Chiếu khắp cả pháp giới.

Ví như thủy thanh châu

Hay làm trong nước đục

Thấy Phật cũng như vậy

Sáu căn đều thanh tịnh.

Bấy giờ, Hóa Hiện Pháp Giới Nguyện Nguyệt Vương Bồ tát thừa Phật thần lực quán sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Ví như đế thanh bửu

Hay làm xanh các màu

Người thấy Phật cũng vậy

Ðều phát hạnh Bồ đề.

Trong mỗi mỗi vi trần

Phật hiện thần thông lực

Khiến vô lượng vô biên

Bồ tát đều thanh tịnh.

Sức thậm thâm vi diệu

Vô biên chẳng thể biết

Cảnh giới của Bồ tát

Thế gian chẳng lường được.

Ðức Như Lai hiện thân

Tướng thanh tịnh trang nghiêm

Vào khắp những pháp giới

Thành tựu các Bồ tát

Nan tư Phật quốc độ

Trong đó thành Chánh giác

Tất cả chư Bồ tát

Thế Chủ đều đầy dẫy.

Ðấng Thích Ca vô thượng

Nơi pháp đều tự tại

Thị hiện thần thông lực

Vô biên chẳng lường được.

Bồ tát những công hạnh

Vô lượng vô cùng tận.

Như Lai tự tại lực

Vì Bồ tát mà hiện.

Phật tử khéo tu học

Những pháp giới thậm thâm

Thành tựu trí vô ngại

Biết rõ tất cả pháp.

Thiện Thệ oai thần lực

Vì chúng chuyển pháp luân

Thần biến khắp sung mãn

Khiến thế gian thanh tịnh.

Như Lai trí viên mãn

Cảnh giới cũng thanh tịnh

Ví như đại Long vương

Giúp khắp các quần sanh.

Bấy giờ, Pháp Huệ Quang Diệm Vương Bồ tát, thừa thần lực của đức Phật, quán sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Tam thế chư Như Lai

Thanh văn đại đệ tử

Ðều chẳng biết được Phật

Sự cất chân hạ chân.

Quá khứ, hiện, vị lai

Tất cả hàng Duyên giác

Cũng chẳng biết Như Lai

Sự cất chân hạ chân.

Huống là các phàm phu

Kiết sử luôn buộc ràng

Vô minh che tâm thức

Mà biết được Ðạo sư.

Chánh Giác trí vô ngại

Siêu quá dường ngữ ngôn

Lượng kia chẳng lường được

Có ai thấy biết được.

Ví như minh nguyệt sáng

Không lường biên tế được

Phật thần thông cũng vậy

Chẳng thấy chung tận được.

Mỗi mỗi những phương tiện

Niệm niệm chỗ biến hóa

Ðều trong vô lượng kiếp

Tư duy chẳng biết được

Suy gẫm Nhứt thiết trí

Pháp chẳng thể nghĩ bàn

Mỗi mỗi môn phương tiện

Chẳng biết được biên tế.

Nếu ai ở pháp nầy

Mà phát nguyện rộng lớn

Ở nơi cảnh giới nầy

Thấy biết chẳng khó lắm.

Dũng mãnh siêng tu tập

Biển pháp lớn khó nghĩ

Tâm đó không chướng ngại

Vào môn phương tiện nầy.

Tâm ý đã điều phục

Chí nguyện cũng rộng rãi

Sẽ được đại Bồ đề

Cảnh giới rất tối thắng.

Bấy giờ, Phá Nhứt Thiết Ma Quân Trí Tràng Vương Bồ tát thừa thần lực của đức Phật quán sát
mười phương rồi nói kệ rằng:

Trí thân chẳng phải thân

Vô ngại khó nghĩ bàn,

Dầu có ai nghĩ bàn

Tất cả không đến được.

Từ bất tư nghì nghiệp

Khởi thân thanh tịnh nầy

Thù đặc diệu trang nghiêm

Chẳng chấp nơi ba cõi.

Quang minh chiếu tất cả

Pháp giới đều thanh tịnh

Nghe Phật Bồ đề môn

Xuất sanh những trí huệ.

Như mặt nhựt thế gian

Phóng ánh sáng trí huệ

Xa rời những trần cấu

Diệt trừ tất cả chướng.

Thanh tịnh khắp ba cõi

Tuyệt hẳn dòng sanh tử

Thành tựu đạo Bồ đề

Xuất sanh Vô thượng giác.

Thị hiện vô biên sắc

Sắc nầy không sở y

Sở hiện dầu vô lượng

Tất cả bất tư nghì.

Bồ đề khoảng một niệm

Hay giác ngộ các pháp

Sao lại muốn nghĩ lường

Như Lai trí biên tế.

Một niệm đều thấu rõ

Tất cả pháp tam thế

Nên nói Phật trí huệ

Vô tận cũng vô hoại.

Người trí phải như vậy

Chuyên gẫm Phật Bồ đề

Gẫm nầy khó nghĩ bàn

Suy đó chẳng thể được.

Bồ đề không thể nói

Siêu quá đường ngữ ngôn

Chư Phật từ đây sanh

Pháp nầy khó nghĩ bàn.

Bấy giờ, Nguyện Trí Quang Minh Tràng Vương Bồ tát, thừa thần lực của đức Phật, quán sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Nếu khéo quán sát được

Bồ đề vô tận hải

Thì lìa được niệm si

Quyết định thọ trì pháp.

Nếu được tâm quyết định

Thì hay tu diệu hạnh

Thiền tịch tự tư lự

Dứt hẳn những nghi hoặc.

Tâm đó chẳng mỏi mệt

Lại cũng chẳng biếng lười

Lần lượt tăng tấn tu

Rốt ráo những Phật pháp.

Tín trí đã thành tựu

Niệm niệm khiến tăng trưởng

Thường thích thường quán sát

Pháp vô đắc vô y.

Vô lượng ức ngàn kiếp

Tu những công đức hạnh

Tất cả đều hồi hướng

Ðạo vô thượng của Phật.

Dầu ở nơi sanh tử

Mà tâm không nhiễm trước

An trụ trong Phật pháp

Thường thích Như Lai hạnh.

Những sự có thế gian

Những pháp uẩn, xứ, giới

Tất cả đều bỏ lìa

Chuyên cầu Phật công đức.

Phàm phu bị mê lầm

Thường lưu chuyển thế gian

Bồ tát tâm vô ngại

Cứu họ được giải thoát.

Bồ tát hạnh khó nói

Thế gian chẳng suy được

Trừ khắp tất cả khổ

Khắp ban quần sanh vui.

Ðã được Bồ đề trí

Lại thương các chúng sanh

Quang minh chiếu thế gian

Ðộ thoát tất cả chúng.

Bấy giờ, Phá Nhứt Thiết Chướng Dũng Mãnh Trí Vương Bồ tát, thừa Phật thần lực, quán sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Vô lượng ức ngàn kiếp

Phật danh khó được nghe

Huống lại được thân cận

Dứt hẳn những nghi lầm.

Như Lai Thế Gian Ðăng

Thông đạt tất cả pháp

Khắp sanh phước tam thế

Khiến chúng đều thanh tịnh.

Như Lai diệu sắc thân

Tất cả chúng kính khen

Ức kiếp thường chiêm ngưỡng

Tâm họ không nhàm đủ.

Nếu có các Phật tử

Quán Phật diệu sắc thân

Tất bỏ luyến thế gian

Hướng về Bồ đề đạo.

Như Lai diệu sắc thân

Hằng diễn quảng đại âm

Biện tài không chướng ngại

Khai Phật Bồ đề môn.

Hiểu ngộ các chúng sanh

Vô lượng chẳng nghĩ bàn

Khiến vào môn trí huệ

Ðược thọ ký Bồ đề.

Như Lai xuất thế gian

Làm phước điền thế gian

Dắt dẫn các hàm thức

Khiến họ tu phước hạnh.

Nếu có cúng dường Phật

Trừ hẳn sợ ác đạo

Diệt trừ tất cả khổ

Thành tựu thân trí huệ.

Nếu thấy Lưỡng Túc Tôn

Hay phát tâm quảng đại

Người nầy hằng gặp Phật

Tăng trưởng sức trí huệ.

Nếu thấy Nhơn Trung Tôn

Quyết ý hướng Bồ đề

Người nầy tự biết được

Tất sẽ thành Chánh giác.

Bấy giờ, Pháp Giới Sai Biệt Nguyện Trí Thần Thông Vương Bồ tát, thừa Phật thần lực, quán sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Thích Ca Vô Thượng Tôn

Ðủ tất cả công đức

Người thấy tâm thanh tịnh

Hồi hướng đại trí huệ.

Như Lai đại từ bi

Xuất hiện ở thế gian

Khắp vì các quần sanh

Chuyển pháp luân vô thượng.

Như Lai vô số kiếp

Cần khổ vì chúng sanh

Thế nào các thế gian

Báo được ơn đức Phật.

Thà trong vô lượng kiếp

Thọ những khổ ác đạo

Trọn chẳng bỏ Như Lai

Mà cầu nơi xuất ly.

Thà thay các chúng sanh

Chịu đủ tất cả khổ

Trọn chẳng bỏ Như Lai

Mà cầu được an lạc.

Thà tại các ác thú

Hằng được nghe Phật danh

Chẳng muốn sanh thiện đạo

Tạm thời chẳng nghe Phật.

Thà sanh các địa ngục

Mỗi mỗi vô số kiếp

Trọn chẳng xa rời Phật

Mà cầu thoát ác thú.

Cớ sao nguyện ở lâu

Tất cả các ác đạo?

Vì được thấy Như Lai

Trí huệ được tăng trưởng.

Nếu được thấy đức Phật

Diệt trừ tất cả khổ

Vào được cảnh đại trí

Của chư Phật Thế Tôn.

Nếu thấy được đức Phật

Bỏ rời tất cả chướng

Trưởng dưỡng phước vô tận

Thành tựu đạo Bồ đề.

Như Lai dứt hẳn được

Tất cả chúng sanh nghi

Tùy tâm họ sở thích

Ðều khiến khắp đầy đủ.

*Bấy giờ, đức Phổ Hiền Bồ tát quán sát khắp tất cả chúng hội Bồ tát, dùng phương tiện đồng pháp giới, phương tiện đồng hư không giới, phương tiện đồng chúng sanh giới, đồng tam thế, đồng tất cả kiếp, đồng tất cả chúng sanh nghiệp, đồng tất cả chúng sanh dục, đồng tất cả chúng sanh giải, đồng tất cả chúng sanh căn, đồng lúc tất cả chúng sanh thành thục, phương tiện đồng tất cả pháp quang ảnh, vì chư Bồ tát, dùng mười thứ pháp cú, khai phát, hiển thị, chiếu rõ, diễn thuyết Sư tử tần thân tam muội nầy. Ðây là mười:

Diễn thuyết pháp cú có thể thị hiện đồng trong pháp giới tất cả Phật sát vi trần, chư Phật thứ đệ xuất thế, các cõi thứ đệ thành hoại.

Diễn thuyết pháp cú có thể thị hiện đồng trong hư không giới tất cả cõi Phật, tận vị lai kiếp, âm thanh tán thán công đức của Như Lai.

Diễn thuyết pháp cú có thể thị hiện đồng trong hư không giới tất cả cõi Phật, Như Lai xuất thế vô lượng vô biên thành Chánh giác môn.

Diễn thuyết pháp cú có thể thị hiện đồng trong hư không giới tất cả cõi Phật, đức Như Lai ngồi đạo tràng giữa chúng hội Bồ tát.

Diễn thuyết pháp cú nơi tất cả lỗ lông niệm niệm xuất hiện đồng tam thế thân biến hóa của tất cả chư Phật đầy khắp pháp giới.

Diễn thuyết pháp cú có thể làm cho một thân đầy khắp mười phương tất cả sát hải bình đẳng hiển hiện.

Diễn thuyết pháp cú có thể làm cho trong tất cả những cảnh giới hiện khắp tam thế chư Phật thần biến.

Diễn thuyết pháp cú có thể làm cho trong tất cả Phật sát vi trần hiện khắp tam thế tất cả Phật sát vi trần số Phật, những thần biến trải qua vô lượng kiếp.

Diễn thuyết pháp cú có thể làm cho tất cả lỗ lông xuất sanh âm thanh đại nguyện hải của tất cả tam thế chư Phật, tận vị lai kiếp, khai phát hóa đạo tất cả Bồ tát.

Diễn thuyết pháp cú có thể làm cho tòa sư tử
của Phật lượng đồng pháp giới, chúng hội Bồ tát, đạo tràng trang nghiêm, tận vị lai kiếp chuyển những pháp luân vi diệu.

Chư Phật tử! Mười pháp cú nầy làm đầu, có bất khả thuyết Phật sát vi trần số pháp cú đều là cảnh giới trí huệ của đức Như Lai.

Lúc đó, đức Phổ Hiền Bồ tát muốn tuyên lại nghĩa nầy, thừa Phật thần lực, quán sát đức Như Lai, quán sát chúng hội, quán sát cảnh giới khó nghĩ bàn của Phật, quán sát vô biên tam muội của chư Phật, quán sát những thế giới hải bất tư nghì, quán sát pháp trí như huyễn bất tư nghì, quán sát tam thế chư Phật bất tư nghì thảy đều bình đẳng, quán sát vô lượng vô biên tất cả những pháp ngôn từ, rồi nói kệ rằng:

Trong mỗi mỗi lỗ lông

Vi trần số sát hải

Ðều có đức Phật ngồi

Ðều đủ chúng Bồ tát.

Trong mỗi mỗi lỗ lông

Vô lượng những sát hải

Phật ngự tòa Bồ đề

Khắp pháp giới như vậy.

Trong mỗi mỗi lỗ lông

Tất cả sát trần Phật

Chúng Bồ tát vây quanh

Phật nói hạnh Phổ Hiền.

Phật ngồi một cõi nước

Ðầy khắp mười phương cõi

Vô lượng chúng Bồ tát

Ðều vân tập chỗ Phật.

Ức cõi vi trần số

Bồ tát công đức hải

Ðều từ trong hội khởi

Ðầy khắp mười phương cõi.

Ðều trụ hạnh Phổ Hiền

Ðều đi biển pháp giới

Hiện khắp tất cả cõi

Ðồng nhập hội chư Phật.

Ngồi an tất cả cõi

Lắng nghe tất cả pháp

Trong mỗi mỗi quốc độ

Ức kiếp tu các hạnh.

Bồ tát chỗ tu hành

Khắp rõ pháp hải hạnh

Vào nơi đại nguyện hải

Trụ cảnh giới của Phật.

Thấu rõ hạnh Phổ Hiền

Xuất sanh các Phật pháp

Ðủ Phật công đức hải

Rộng hiện sự thần thông.

Thân vân khắp trần số

Ðầy khắp tất cả cõi

Khắp mưa pháp cam lộ

Cho chúng trụ Phật đạo.

Bấy giờ, đức Thế tôn, vì muốn cho chư Bồ tát an trụ trong Như Lai sư tử tần thân quảng đại tam muội, nên từ tướng bạch hào giữa chặng mày, phóng ra quang minh lớn gọi là Phổ chiếu tam thế pháp giới môn, dùng bất khả thuyết Phật sát vi trần số quang minh mà làm quyến thuộc, chiếu khắp chư Phật quốc độ trong tất cả thế giới hải ở mười phương.

Lúc đó, tại rừng Thệ Ða, Bồ tát đại chúng đều thấy tất cả cõi Phật khắp pháp giới hư không giới. Trong mỗi mỗi vi trần đều có tất cả Phật sát vi trần số Phật độ, những danh, những sắc, những thanh tịnh, những trụ xứ, những hình tướng.

Trong tất cả Phật độ như vậy đều có đại Bồ tát ngồi đạo tràng trên tòa sư tử thành Ðẳng Chánh Giác. Ðại chúng Bồ tát trước sau vây quanh. Các thế gian chủ thì cúng dường.

Hoặc thấy ở trong bất khả thuyết Phật sát chúng hội phát ra âm thanh vi diệu đầy khắp pháp giới chuyển chánh pháp luân. Hoặc thấy tại Thiên cung điện, Long cung điện, Dạ xoa cung điện, trong những cung điện của Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, Nhơn, Phi nhơn, v.v… Hoặc thấy tại nhơn gian: thôn ấp, tụ lạc, vương đô, đại xứ mà hiện những họ, những tên, những thân, những tướng, những quang minh. Trụ những oai nghi, nhập những tam muội, hiện những thần biến. Hoặc có lúc tự dùng những ngôn âm, hoặc làm cho những Bồ tát ở trong những đại hội, dùng những ngôn từ thuyết những chánh pháp.

Trong hội nầy, đại chúng Bồ tát thấy thậm thâm tam muội đại thần thông lực của chư Phật Như Lai như vậy. Khắp pháp giới hư không giới, trong tất cả mười phương, nương nơi tâm tưởng của chúng sanh mà an trụ. Bắt đầu từ tiền tế, nhẫn đến hiện tại nay, tất cả quốc độ thân, tất cả chúng sanh thân, tất cả hư không đạo, trong đó, nơi chỗ bằng đầu lông, mỗi mỗi đều có vi trần số cõi, do những nghiệp mà có ra, thứ đệ an trụ. Cũng đều có đạo tràng. Bồ tát chúng hội như vậy mà thấy thần lực của Phật, chẳng hoại tam thế, chẳng hoại thế gian, ở trong tâm của tất cả chúng sanh mà hiện hình tượng. Tùy theo tâm sở thích của tất cả chúng sanh mà phát ra ngôn âm vi diệu vào khắp trong tất cả chúng hội, hiện khắp trước tất cả chúng sanh. Sắc tướng có khác mà trí huệ không khác. Tùy cơ nghi mà khai thị Phật pháp, giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh chưa lúc nào nghỉ.

Những ai thấy được thần lực nầy thì đều là do sự nhiếp thọ của thiện căn thuở quá khứ của đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai. Hoặc thuở xưa từng dùng pháp tứ nhiếp để nhiếp. Hoặc là thấy nghe, nhớ nghĩ, thân cận mà được thành thục. Hoặc là ngày trước dạy cho phát tâm Vô thượng Bồ đề. Hoặc là thuở xưa ở chỗ chư Phật đồng gieo căn lành. Hoặc là quá khứ dùng Nhứt thiết trí thiện xảo phương tiện giáo hóa thành thục. Thế nên đều được nhập nơi bất tư nghì thậm thâm tam muội đại thần lực khắp pháp giới hư không giới của Như Lai. Hoặc nhập pháp thân, hoặc nhập sắc thân, hoặc nhập hạnh đã thành tựu thuở xưa. Hoặc nhập viên mãn các môn ba la mật, hoặc nhập hạnh luân trang nghiêm thanh tịnh, hoặc nhập các bực Bồ tát, hoặc nhập sức thành Chánh giác. Hoặc nhập tam muội vô sai biệt đại thần biến của đức Phật an trụ. Hoặc nhập trí lực, trí vô úy của Như Lai. Hoặc nhập biển vô ngại biện tài của chư Phật.

Chư Bồ tát đó dùng những giải, những đạo, những môn, những nhập, những lý thú, những tùy thuận, những trí huệ, những trợ đạo, những phương tiện, những tam muội mà nhập mười bất khả thuyết Phật sát vi trần số Phật thần biến hải phương tiện môn như vậy. Thế nào là những tam muội?

Những là: Phổ trang nghiêm pháp giới tam muội, Phổ chiếu nhứt thiết tam thế vô ngại cảnh giới tam muội, Pháp giới vô sai biệt trí quang minh tam muội, Nhập Như Lai cảnh giới bất động chuyển tam muội, Phổ chiếu vô biên hư không tam muội, Nhập Như Lai lực tam muội, Phật vô úy dũng mãnh phấn tấn trang nghiêm tam muội, Nhứt thiết pháp giới triền chuyển tạng tam muội, Như nguyệt phổ hiện nhứt thiết pháp giới dĩ vô ngại âm đại khai diễn tam muội, Phổ thanh tịnh pháp quang minh tam muội, Vô ngại tắng Pháp Vương tràng tam muội, Nhứt nhứt cảnh giới trung tất kiến nhứt thiết chư Phật hải tam muội, Ư nhứt thiết thế gian tất hiện thân tam muội, Nhập Như Lai vô sai biệt thân cảnh giới tam muội, Tùy nhứt thiết thế gian chuyển đại bi tạng tam muội, Tri nhứt thiết pháp vô hữu tích tam muội, Tri nhứt thiết pháp cứu cánh tịch diệt tam muội, Tuy vô sở đắc nhi năng biến hóa phổ hiện thế gian tam muội, Phổ nhập nhứt thiết sát tam muội, Trang nghiêm nhứt thiết Phật sát thành Chánh giác tam muội, Quán nhứt thiết thế gian chủ sắc tướng sai biệt tam muội, Quán nhứt thiết chúng sanh cảnh giới vô chướng ngại tam muội, Năng xuất sanh nhứt thiết Như Lai mẫu tam muội, Năng tu hành nhập nhứt thiết Phật hải công đức đạo tam muội, Nhứt nhứt cảnh giới trung xuất hiện thần biến tận vị lai tế tam muội, Nhập nhứt thiết Như Lai bổn sự hải tam muội, Tận vị lai tế hộ trì nhứt thiết Như Lai chủng tánh tam muội, Dĩ quyết định giải lực linh hiện tại thập phương nhứt thiết Phật sát hải giai thanh tịnh tam muội, Nhứt niệm trung phổ chiếu nhứt thiết Phật sở trụ tam muội, Nhập nhứt thiết cảnh giới vô ngại tế tam muội, Linh nhứt thiết thế giới vi nhứt Phật sát tam muội, Xuất nhứt thiết Phật biến hóa thân tam muội, Dĩ kim cang vương trí tri nhứt thiết chư căn hải tam muội, Tri nhứt thiết Như Lai đồng nhứt thân tam muội, Tri nhứt thiết pháp giới sở an lập tất trụ tâm niệm tế tam muội, Ư nhứt thiết pháp giới quảng đại quốc độ trung thị hiện Niết bàn tam muội, Linh trụ tối thượng xứ tam muội, Ư nhứt thiết Phật sát hiện chủng chủng chúng sanh sai biệt thân tam muội, Phổ nhập nhứt thiết Phật trí huệ tam muội, Tri nhứt thiết pháp tánh tướng tam muội, Nhứt niệm phổ tri tam thế pháp tam muội, Niệm niệm trung phổ hiện pháp giới thân tam muội, Dĩ sư tử dũng mãnh trí tri nhứt thiết Như Lai xuất hưng thứ đệ tam muội, Ư nhứt thiết pháp giới cảnh giới huệ nhãn viên mãn tam muội, Dũng mãnh xu hướng thập lực tam muội, Phóng nhứt thiết công đức viên mãn quang minh phổ chiếu thế gian tam muội, Bất động tạng tam muội, Thuyết nhứt pháp phổ nhập nhứt thiết pháp tam muội, Ư nhứt pháp dĩ nhứt thiết ngôn âm sai biệt huấn thích tam muội, Diễn thuyết nhứt thiết Phật vô nhị pháp tam muội, Tri tam thế vô ngại tế tam muội, Tri nhứt thiết kiếp vô sai biệt tam muội, Nhập Thập lực vi tế phương tiện tam muội, Ư nhứt thiết kiếp thành tựu nhứt thiết Bồ tát hạnh bất đoạn tuyệt tam muội, Thập phương phổ hiện thân tam muội, Ư pháp giới tự tại thành Chánh giác tam muội, Sanh nhứt thiết an ổn thọ tam muội, Xuất nhứt thiết trang nghiêm cụ trang nghiêm hư không giới tam muội, Niệm niệm trung xuất đẳng chúng sanh số biến hóa thân vân tam muội, Như Lai tịnh không nguyệt quang minh tam muội, Thường kiến nhứt thiết Như Lai trụ hư không tam muội, Khai thị nhứt thiết Phật trang nghiêm tam muội, Chiếu minh nhứt thiết pháp nghĩa đăng tam muội, Chiếu thập lực cảnh giới tam muội, Tam thế nhứt thiết Phật tràng tướng tam muội, Nhứt thiết Phật nhứt mật tạng tam muội, Niệm niệm trung sở tác giai cứu cánh tam muội, Vô tận phước đức tạng tam muội, Kiến vô biên Phật cảnh giới tam muội, Kiên trụ nhứt thiết pháp tam muội, Hiện nhứt thiết Như Lai biến hóa tất linh tri kiến tam muội, Niệm niệm trung Phật nhựt thường xuất hiện tam muội, Nhứt nhựt trung tất tri tam thế sở hữu pháp tam muội, Phổ âm diễn thuyết nhứt thiết pháp tánh tịch diệt tam muội, Kiến nhứt thiết Phật tự tại lực tam muội, Pháp giới khai phu liên hoa tam muội, Quán chư pháp như hư không vô trụ xứ tam muội, Thập phương hải phổ nhập nhứt phương tam muội, Nhập nhứt thiết pháp giới vô nguyên để tam muội, Nhứt thiết pháp hải tam muội, Dĩ tịch tịnh thân phóng nhứt thiết quang minh tam muội, Nhứt niệm trung hiện nhứt thiết thần thông đại nguyện tam muội, Nhứt thiết thời nhứt thiết xứ thành Chánh giác tam muội, Dĩ nhứt trang nghiêm nhập nhứt thiết pháp giới tam muội, Phổ hiện nhứt thiết chư Phật thân tam muội, Tri nhứt thiết chúng sanh quảng đại thù thắng thần thông trí tam muội, Nhứt niệm trung kỳ thân biến pháp giới tam muội, Hiện Nhứt thừa tịnh pháp giới tam muội, Nhập phổ môn pháp giới thị hiện đại trang nghiêm tam muội, Trụ trì nhứt thiết Phật pháp luân tam muội, Dĩ nhứt thiết pháp môn trang nghiêm nhứt pháp môn tam muội, Dĩ nhơn đà la võng nguyện hạnh nhiếp nhứt thiết chúng sanh giới tam muội, Phân biệt nhứt thiết thế giới môn tam muội, Thừa liên hoa tự tại du bộ tam muội, Tri nhứt thiết chúng sanh chủng chủng sai biệt thần thông trí tam muội, Linh kỳ thân hằng hiện nhứt thiết chúng sanh tiền tam muội, Tri nhứt thiết chúng sanh sai biệt âm thanh ngôn từ hải tam muội, Tri nhứt thiết chúng sanh sai biệt trí thần thông tam muội, Đại bi bình đẳng tạng tam muội, Nhứt thiết Phật nhập Như Lai tế tam muội, Quán sát nhứt thiết Như Lai giải thoát xứ sư tử tần thân tam muội.

Bồ tát dùng bất khả thuyết Phật sát vi trần số tam muội như vậy mà nhập Tỳ Lô Giá Na Như Lai niệm niệm sung mãn nhứt thiết pháp giới tam muội thần biến hải.

Chư Bồ tát đó thảy đều đầy đủ đại trí thần thông, minh lợi tự tại, trụ ở trí địa, dùng trí quảng đại quán sát khắp tất cả từ những trí huệ chủng tánh mà sanh, Nhứt thiết chủng trí thường hiện ở trước, được trí nhãn thanh tịnh rời si lòa, vì các chúng sanh làm Ðiều Ngự Sư, trụ Phật bình đẳng, nơi tất cả pháp không có phân biệt, thấu rõ cảnh giới, biết các thế gian tánh đều tịch diệt không có chỗ y tựa. Ðến khắp cõi nước của tất cả chư Phật mà không chấp trước. Ðều có thể quán sát tất cả các pháp mà chẳng trụ. Vào khắp tất cả diệu pháp cung điện mà không chỗ đến. Giáo hóa điều phục tất cả thế gian. Khắp vì tất cả chúng sanh mà hiện nơi an ổn. Trí huệ giải thoát là chỗ đi của các Ngài. Hằng dùng trí thân ở nơi ly tham, siêu việt biển hữu lậu mà hiển bày chơn thiệt tế. Trí quang viên mãn thấy khắp các pháp. Trụ nơi tam muội kiên cố bất động. Với các chúng sanh hằng khởi đại bi. Biết các pháp môn thảy đều như huyễn, tất cả chúng sanh thảy đều như mộng, tất cả Như Lai thảy đều như bóng, tất cả ngôn âm thảy đều như vang, tất cả các pháp thảy đều như hóa, có thể khéo chứa nhóm hạnh nguyện thù thắng. Trí huệ viên mãn thanh tịnh thiện xảo tâm rất tịch tịnh. Khéo nhập tất cả cảnh giới tổng trì. Ðủ sức tam muội dũng mãnh không khiếp. Ðược trí nhãn sáng suốt trụ pháp giới tế. Ðến chỗ vô sở đắc của tất cả pháp. Tu tập trí huệ đại hải không bờ. Ðến trí ba la mật rốt ráo bỉ ngạn. Ðược bát nhã ba la mật nhiếp trì. Dùng thần thông ba la mật vào khắp thế gian. Nương tam muội ba la mật được tâm tự tại. Dùng trí chẳng điên đảo biết tất cả nghĩa. Dùng trí xảo phân biệt khai thị pháp tạng. Dùng trí hiển hiện biết rõ để giải thích văn từ. Dùng nguyện lực lớn thuyết pháp vô tận. Dùng vô sở úy để đại sư tử hống. Thường thích quán sát pháp không chỗ nương. Dùng tịnh pháp nhãn quán sát khắp tất cả. Dùng tịnh trí nguyệt chiếu thế gian thành hoại. Dùng trí huệ quang chiếu chơn thiệt đế. Phước đức trí huệ như núi kim cang, tất cả ví dụ không thể đến được. Khéo quán sát các pháp huệ căn tăng trưởng. Dũng mãnh tinh tấn xô dẹp chúng ma. Vô lượng trí huệ oai quang sí thạnh. Thân của các Ngài siêu xuất tất cả thế gian. Ðược trí huệ vô ngại đối với tất cả pháp. Khéo hay tỏ ngộ ngằn mé tận vô tận. Trụ ở ngằn mé phổ biến, nhập vào ngằn mé chơn thiệt. Quán trí vô tướng thường hiện ra trước. Thiện xảo thành tựu các hạnh Bồ tát. Dùng trí vô nhị biết các cảnh giới. Thấy khắp tất cả những loài ở thế gian. Trụ khắp tất cả quốc độ của chư Phật. Trí đăng viên mãn, với tất cả pháp không bị chướng ngại. Phóng tịnh pháp quang chiếu mười phương cõi. Là phước điền chơn thiệt của thế gian. Hoặc thấy hoặc nghe sở nguyện đều viên mãn. Phước đức cao lớn vượt hơn các thế gian. Dũng mãnh vô úy dẹp các ngoại đạo. Diễn thuyết pháp âm khắp tất cả cõi. Thấy khắp chư Phật không có lòng nhàm đủ. Nơi pháp thân của Phật đã được tự tại. Tùy cơ nghi hóa độ mà vì họ hiện thân. Một thân đầy khắp tất cả cõi Phật. Ðã được thần thông thanh tịnh tư tại. Ngồi thuyền đại trí đến lui vô ngại. Trí huệ viên mãn khắp cùng pháp giới, như mặt nhựt mọc lên chiếu khắp thế gian. Tùy tâm của chúng sanh mà hiện sắc tượng. Biết rõ căn tánh dục lạc của tất cả chúng sanh. Nhập vào cảnh giới vô tránh của tất cả pháp. Biết các pháp tánh không sanh, không khởi. Có thể làm pháp lớn pháp nhỏ nhập vào nhau tự tại. Quyết rõ lý thú thậm thâm của Phật địa. Dùng vô tận cú nói nghĩa thậm thâm. Ở trong một câu diễn thuyết tất cả biển tu đa la. Ðược thân trí huệ đà la ni. Phàm những pháp đã thọ trì thì vĩnh viễn không quên mất. Một niệm có thể nhớ những sự việc trong vô lượng kiếp. Trong một niệm biết rõ trí của tất cả tam thế chúng sanh. Hằng dùng tất cả môn đà la ni diễn thuyết vô biên pháp hải của chư Phật. Thường chuyển pháp luân thanh tịnh bất thối, làm cho các chúng sanh đều sanh trí huệ. Ðược Phật cảnh giới trí huệ quang minh. Nhập vào nơi thiện kiến thậm thâm tam muội. Nhập vào ngằn mé vô chướng ngại của tất cả pháp. Với tất cả pháp được thắng trí tự tại. Tất cả cảnh giới đều thanh tịnh trang nghiêm. Vào khắp tất cả pháp giới mười phương. Tùy xứ sở kia đều đến tất cả. Trong mỗi mỗi vi trần hiện thành Chánh giác. Nơi tánh vô sắc hiện tất cả sắc. Ðem tất cả phương vào khắp một phương.

Chư Bồ tát nầy đủ vô biên tạng phước đức trí huệ như vậy. Thường được chư Phật khen ngợi. Bao nhiêu ngôn từ nói công đức của các Ngài cũng không hết được. Tất cả chư Bồ tát nầy đều ở trong rừng Thệ Ða. Sâu vào biển công đức lớn của Như Lai. Ðều thấy quang minh chiếu sáng của đức Phật.

Lúc đó, chư Bồ tát được bất tư nghì chánh pháp quang minh, lòng rất hoan hỷ. Ðều ở trên thân mình, cùng lâu các và những đồ trang nghiêm với tòa sư tử đương ngồi, trong tất cả vật khắp rừng Thệ Ða, hóa hiện các thứ mây đại trang nghiêm, đầy khắp tất cả thập phương pháp giới.

Ở trong mỗi niệm phóng ra mây đại quang minh đầy khắp mười phương, đều có thể khai ngộ tất cả chúng sanh. Hiện ra mây ma ni bửu linh đầy khắp mười phương, phát âm thanh vi diệu ca tụng khen ngợi tất cả công đức của tam thế chư Phật. Hiện ra tất cả mây âm nhạc đầy khắp mười phương. Trong âm nhạc diễn nói những nghiệp quả báo của tất cả chúng sanh. Hiện ra mây những nguyện hạnh sắc tướng của tất cả Bồ tát đầy khắp mười phương, diễn nói đại nguyện của chư Bồ tát. Hiện ra mây tự tại biến hóa của tất cả Như Lai đầy khắp mười phương, diễn nói ngôn ngữ âm thanh của tất cả chư Phật Như Lai. Hiện ra mây thân tướng hảo trang nghiêm của tất cả Bồ tát đầy khắp mười phương, nói chư Như Lai thứ đệ xuất thế nơi tất cả quốc độ. Hiện ra mây đạo tràng của tam thế Như Lai đầy khắp mười phương, hiển bày công đức trang nghiêm của tất cả Như Lai thành Ðẳng Chánh Giác. Hiện ra mây tất cả Long vương đầy khắp mười phương, mưa tất cả thứ hương thơm. Hiện ra mây thân của tất cả Thế Chủ đầy khắp mười phương, diễn thuyết hạnh của Phổ Hiền Bồ tát. Hiện ra mây Phật độ thanh tịnh tất cả bửu trang nghiêm đầy khắp mười phương, hiển bày tất cả Như Lai chuyển chánh pháp luân.

Chư Bồ tát nầy vì được bất tư nghì pháp quang minh, nên theo pháp phải hiện ra bất khả thuyết Phật sát vi trần số mây đại thần biến trang nghiêm như vậy.

Lúc đó, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát thừa thần lực của đức Phật, muốn tuyên lại những sự thần biến trong rừng Thệ Ða, quán sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Các Ngài nên xem rừng Thệ Ða

Phật oai thần nên rộng vô biên

Tất cả trang nghiêm đều hiện bày

Thập phương thế giới đều đầy khắp.

Tất cả cõi nước ở mười phương

Vô biên phẩm loại đại trang nghiêm

Ở trong những bửu tòa các cảnh

Hiển hiện rõ ràng những sắc tượng.

Lỗ lông của Phật tử hiện ra.

Những mây trang nghiêm báu đẹp sáng

Và phát tiếng vi diệu Như Lai

Khắp cùng mười phương tất cả cõi.

Trong cây bông báu hiện diệu thân

Thân ấy sắc tướng đồng Phạm Vương

Từ thiền định dậy mà bước đi

Oai nghi đến lui hằng tịch tịnh.

Trong mỗi lỗ lông của Như Lai

Thường hiện nan tư thân biến hóa

Ðều như Phổ Hiền đại Bồ tát

Những tướng đại nhơn để nghiêm hảo.

Cõi không gian trên rừng Thệ Ða

Những đồ trang nghiêm phát tiếng diệu

Nói khắp tam thế chư Bồ tát

Thành tựu tất cả biển công đức.

Những cây báu trong rừng Thệ Ða

Cũng phát vô lượng âm thanh diệu

Diễn nói tất cả các quần sanh

Những loại nghiệp hải đều sai khác.

Bao nhiêu cảnh giới ở trong rừng

Ðều hiện tam thế Phật Như Lai

Mỗi Phật đều hiện đại thần thông

Mười phương sát hải vi trần số.

Bao nhiêu những quốc độ mười phương

Tất cả sát hải vi trần số

Ðều nhập trong lỗ lông Như Lai

Thứ đệ trang nghiêm đều hiện thấy.

Bao nhiêu trang nghiêm đều hiện Phật

Bằng số chúng sanh khắp thế gian

Mỗi mỗi đều phóng đại quang minh

Thảy đều tùy nghi độ muôn loại.

Những hoa thơm sáng và tạng báu

Tất cả những mây đẹp trang nghiêm

Ðều rộng lớn lượng đồng hư không

Ðầy khắp mười phương các quốc độ.

Mười phương tam thế tất cả Phật

Bao nhiêu trang nghiêm diệu đạo tràng

Ở trong cảnh giới viên lâm nầy

Mỗi mỗi sắc tượng đều hiện rõ.

Tất cả Phổ Hiền các Phật tử

Trăm ngàn kiếp hải cõi trang nghiêm

Số vô lượng bằng số chúng sanh

Tất cả hiện đủ trong rừng nầy.

Bấy giờ, chư Bồ tát nầy được tam muội quang minh của Phật chiếu đến nên liền được nhập tam muội ấy. Mỗi Bồ tát đều được bất khả thuyết Phật sát vi trần số môn đại bi, lợi ích an lạc tất cả chúng sanh. Ở trên thân của chư Bồ tát, mỗi lỗ lông đều phóng ra bất khả thuyết vi trần số quang minh. Trong mỗi quang minh đều hóa hiện bất khả thuyết Phật sát vi trần số Bồ tát, thân tướng như các Thế Chủ, hiện khắp trước tất cả chúng sanh, bao vòng khắp cùng mười phương pháp giới, dùng những phương tiện để giáo hóa điều phục.

Hoặc hiện ra môn vô thường của bất khả thuyết Phật sát vi trần số chư Thiên cung điện. Hoặc hiện ra môn thọ sanh của bất khả thuyết Phật sát vi trần số tất cả chúng sanh. Hoặc hiện ra môn tu hành của bất khả thuyết Phật sát vi trần số tất cả Bồ tát. Hoặc hiện ra bất khả thuyết Phật sát vi trần số môn mộng cảnh. Hoặc hiện ra bất khả thuyết Phật sát vi trần số môn đại nguyện của Bồ tát. Hoặc hiện ra bất khả thuyết Phật sát vi trần số môn chấn động thế giới. Hoặc hiện ra bất khả thuyết Phật sát vi trần số môn phân biệt thế giới. Hoặc hiện ra bất khả thuyết Phật sát vi trần số môn hiện sanh thế giới. Hoặc hiện ra bất khả thuyết Phật sát vi trần số môn Đàn ba la mật. Hoặc hiện ra bất khả thuyết Phật sát vi trần số môn Thi ba la mật của tất cả Như Lai tu những công đức, những khổ hạnh. Hoặc hiện ra bất khả thuyết Phật sát vi trần số môn Sằn đề ba la mật cắt đứt chi thể. Hoặc hiện ra bất khả thuyết Phật sát vi trần số Tỳ lê gia ba la mật siêng tu. Hoặc hiện ra bất khả thuyết Phật sát vi trần số môn Thiền định giải thoát của tất cả Bồ tát tu những tam muội. Hoặc hiện ra bất khả thuyết Phật sát vi trần số môn Trí quang minh viên mãn Phật đạo. Hoặc hiện ra bất khả thuyết Phật sát vi trần số môn xả bỏ vô số thân mạng để cầu một văn một câu Phật pháp. Hoặc hiện ra bất khả thuyết Phật sát vi trần số môn gần gũi tất cả Phật han hỏi tất cả pháp không có lòng nhàm mỏi. Hoặc hiện ra bất khả thuyết Phật sát vi trần số môn tùy theo thời tiết dục lạc của tất cả chúng sanh, đến chỗ của họ để phương tiện thành thục làm cho họ trụ nơi Nhứt thiết trí hải quang minh. Hoặc hiện ra bất khả thuyết Phật sát vi trần số môn hàng phục chúng ma, chế ngự các ngoại đạo, hiển bày sức phước trí của Bồ tát. Hoặc hiện ra bất khả thuyết Phật sát vi trần số môn minh trí biết tất cả công xảo. Hoặc hiện ra bất khả thuyết Phật sát vi trần số môn minh trí biết tất cả chúng sanh sai biệt. Hoặc hiện ra bất khả thuyết Phật sát vi trần số môn minh trí biết tất cả pháp sai biệt. Hoặc hiện ra bất khả thuyết Phật sát vi trần số môn minh trí biết tâm sở thích sai biệt của tất cả chúng sanh. Hoặc hiện ra bất khả thuyết Phật sát vi trần số môn minh trí biết căn hành phiền não tập khí của tất cả chúng sanh. Hoặc hiện ra bất khả thuyết Phật sát vi trần số môn minh trí biết những nghiệp của tất cả chúng sanh. Hoặc hiện ra bất khả thuyết Phật sát vi trần số môn khai ngộ tất cả chúng sanh.

Dùng bất khả thuyết Phật sát vi trần số môn phương tiện như vậy, đến chỗ ở của tất cả chúng sanh mà thành thục họ.

Như là: Hoặc đến Thiên cung, hoặc đến Long cung. Hoặc đến cung của Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già. Hoặc đến cung của Phạm vương. Hoặc đến cung của nhơn vương. Hoặc đến cung của Diêm La vương. Hoặc đến chỗ ở của súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục. Dùng đại bi bình đẳng, đại nguyện bình đẳng, trí huệ bình đẳng, phương tiện bình đẳng để nhiếp thọ các chúng sanh.

Hoặc có người thấy xong mà điều phục. Hoặc có người nghe xong mà điều phục. Hoặc có người ghi nhớ mà điều phục. Hoặc có người nghe âm thanh mà điều phục. Hoặc có người nghe danh hiệu mà điều phục. Hoặc thấy viên quang mà điều phục. Hoặc thấy quang võng mà điều phục. Tùy tâm sở thích của các chúng sanh đều đến chỗ ở của họ mà làm cho họ được lợi ích.

Chư Phật tử! Nơi rừng Thệ Ða, chư Bồ tát vì muốn thành thục các chúng sanh nên hoặc có lúc hiện ở trong những cung điện nghiêm sức. Hoặc có lúc thị hiện ở lâu các bửu tòa sư tử của mình, chúng hội đạo tràng cùng khắp mười phương đều làm cho được thấy. Nhưng vẫn chẳng rời khỏi rừng Thệ Ða, chỗ của đức Như Lai đây.

Chư Phật tử! những Bồ tát nầy, hoặc có lúc thị hiện vô lượng hóa thân. Hoặc hiện thân mình riêng một không bạn. Như là hiện thân Sa môn. Hoặc hiện thân Bà la môn. Hoặc hiện thân khổ hạnh. Hoặc hiện thân mập mạnh. Hoặc hiện thân y vương. Hoặc hiện thân thương chủ. Hoặc hiện thân tịnh mạng. Hoặc hiện thân kỹ nhạc. Hoặc hiện thân phụng sự chư Thiên. Hoặc hiện thân công xảo kỹ thuật.

Qua đến tất cả xóm làng thành ấp đô thị, chỗ của chúng sanh ở, Bồ tát nầy tùy cơ nghi dùng mọi thứ thân, mọi oai nghi, mọi âm thanh, mọi ngôn luận, những chỗ ở, mà thực hành hạnh Bồ tát trong tất cả thế gian dường như màng lưới của Thiên Ðế.

Hoặc nói công xảo sự nghiệp thế gian. Hoặc nói tất cả trí huệ chiếu thế gian như đèn sáng. Hoặc nói tất cả chúng sanh do nghiệp lực trang nghiêm. Hoặc nói cõi nước mười phương kiến lập những thừa vị. Hoặc nói đèn trí huệ chiếu cảnh giới của tất cả pháp, giáo hóa thành thục tất cả chúng sanh. Nhưng vẫn cũng chẳng rời khỏi rừng Thệ Ða của đức Như Lai đây.

Bấy giờ, Ngài Văn Thù Sư Lợi đồng tử, từ Thiện Trụ lâu các đi ra cùng vô lượng Bồ tát đồng hạnh và các Thần Kim Cang thường theo thị vệ, các Thân Chúng Thần khắp vì chúng sanh mà cúng dường chư Phật, các Túc Hành Thần từ lâu phát kiên thệ nguyện thường tùy tùng, các Chủ Ðịa Thần thích nghe diệu pháp, Các Chủ Thủy Thần thường tu đại bi, các Chủ Hỏa Thần trí quang chiếu sáng. Các Chủ Phong Thần ma ni làm mão, các Chủ Phương Thần minh luyện tất cả nghi thức mười phương, các Chủ Dạ Thần chuyên cần diệt trừ vô minh hắc ám, các Chủ Trú Thần xiển minh Phật nhựt nhứt tâm không lười, các Chủ Không Thần trang nghiêm pháp giới tất cả hư không, các Chủ Hải Thần độ khắp chúng sanh vượt khỏi biển hữu lậu, các Chủ Sơn Thần thường siêng chứa nhóm thiện căn trợ đạo cao như núi xu hướng Nhứt thiết trí, các Chủ Thành Thần thường siêng gìn giữ thành Bồ đề tâm của tất cả chúng sanh, các đại Long vương thường siêng gìn giữ pháp thành vô thượng Nhứt thiết chủng trí, các Dạ xoa vương thường siêng hộ trì tất cả chúng sanh, các Càn thát bà vương thường làm cho chúng sanh thêm hoan hỷ, các Cưu bàn trà vương thường siêng trừ diệt những loài ngạ quỷ, các Ca lâu la vương hằng thuận cứu tế tất cả chúng sanh ra khỏi biển hữu lậu, các A tu la vương nguyện được thành tựu những thân Như Lai cao hơn thế gian, các Ma hầu la già vương thấy Phật hoan hỷ cúi mình cung kính, các Đại Thiên vương hằng nhàm sanh tử thường thích thấy Phật, các Đại Phạm vương tôn trọng chư Phật tán thán cúng dường.

Văn Thù Sư Lợi Bồ tát cùng những chúng Bồ tát công đức trang nghiêm như vậy ra khỏi chỗ mình ở, đồng đến chỗ đức Phật, hữu nhiễu đức Thế Tôn đến vô lượng vòng. Dâng các món cúng dường lên đức Phật. Cúng dường xong, từ tạ Phật rồi đi qua phương nam đến trong nhơn gian.

Lúc đó, tôn giả Xá Lợi Phất thừa thần lực của Phật, thấy Văn Thù Sư Lợi Bồ tát cùng chúng hội Bồ tát trang nghiêm ra khỏi rừng Thệ Ða qua phương nam du hành nhơn gian liền nghĩ rằng: Tôi nay nên theo Ngài Văn Thù Sư Lợi qua phương nam.

Nghĩ xong, tôn giả Xá Lợi Phất cùng sáu ngàn Tỳ kheo đồng rời chỗ mình ở đến chỗ đức Phật đảnh lễ chân Phật rồi bạch ý muốn. Đức Phật hứa khả. Các Ngài hữu nhiễu đức Phật ba vòng từ tạ đi đến chỗ Ngài Văn Thù Sư Lợi.

Sáu ngàn Tỳ kheo nầy vốn cùng ở chung với tôn giả Xá Lợi Phất, xuất gia chưa lâu, những là Hải Giác Tỳ kheo, Thiện Sanh Tỳ kheo, Phước Quang Tỳ kheo, Ðại Ðồng Tử Tỳ kheo, Ðiển Sanh Tỳ kheo, Tịnh Hạnh Tỳ kheo, Thiên Ðức Tỳ kheo, Quân Huệ Tỳ kheo, Phạm Thắng Tỳ kheo, Tịch Huệ Tỳ kheo, sáu ngàn Tỳ kheo như vậy.

Những Tỳ kheo nầy đã từng cúng dường vô lượng chư Phật, trồng sâu căn lành, sức hiểu biết rộng lớn, tín nhãn sáng suốt, tâm lượng rộng rãi, quán Phật cảnh giới, rõ pháp bổn tánh, lợi ích chúng sanh, thường cần cầu công đức của chư Phật.

Những Tỳ kheo nầy đều do Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ tát thuyết pháp giáo hóa mà được thành tựu. Trong lúc đang đi nơi đường, tôn giả Xá Lợi Phất quan sát chư Tỳ kheo rồi bảo Giác Hải rằng:

Giác Hải nên quán sát thân thanh tịnh tướng tốt trang nghiêm của Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, tất cả hàng nhơn Thiên chẳng nghĩ bàn được. Giác Hải nên quán sát viên quang chói sáng của Văn Thù Sư Lợi Bồ tát làm cho vô lượng chúng sanh phát tâm hoan hỷ. Giác Hải nên quán sát quang võng trang nghiêm của Văn Thù Sư Lợi Bồ tát diệt trừ vô lượng khổ não cho chúng sanh. Giác Hải nên quán sát chúng hội đông đầy của Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, đại chúng đó đều là bực Bồ tát do thiện căn thuở xưa nhiếp thọ. Giác Hải nên quán sát con đường của Văn Thù Sư Lợi Bồ tát đang đi, hai bên cách tám bộ đều bằng thẳng trang nghiêm. Giác Hải nên quán sát chỗ đứng của Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, khắp vòng mười phương thường có đạo tràng luôn xoay theo. Giác Hải nên quán sát con đường của Văn Thù Sư Lợi đang đi đủ cả vô lượng phước đức trang nghiêm, hai bên đường có những kho trân bửu ngầm dưới đất tự nhiên trồi lên. Giác Hải nên quán sát Văn Thù Sư Lợi từng cúng dường chư Phật, do thiện căn đó làm cho trong tất cả hàng cây đều hiện ra tạng báu trang nghiêm. Giác Hải nên quán sát các thế gian chủ rưới mây cúng cụ, đảnh lễ cung kính dâng cúng Văn Thù Sư Lợi Bồ tát. Giác Hải nên quán sát tất cả chư Phật Như Lai mười phương, lúc sắp thuyết pháp, đều phóng ánh sáng lông trắng giữa chặng mày chiếu đến thân Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, nhập vào nơi đảnh của Ngài.

Bấy giờ, tôn giả Xá Lợi Phất vì chư Tỳ kheo mà tán thán khai thị diễn thuyết Ngài Văn Thù Sư Lợi đồng tử có vô lượng công đức trang nghiêm như vậy. Chư Tỳ kheo nghe xong, tâm ý thanh tịnh, tin hiểu vững chắc, vui mừng khôn xiết, toàn thân rúng nhảy không tự kềm được. Thân thể nhu nhuyến, sáu căn vui đẹp, tất cả lo khổ đều trừ, cấu chướng đều hết. Thường được thấy chư Phật thâm cầu chánh pháp đủ căn tánh Bồ tát, được oai lực Bồ tát, đại bi đại nguyện đều tự xuất sanh, nhập vào cảnh giới thậm thâm của các môn ba la mật. Thập phương chư Phật thường hiện ở trước. Rất mến thích Nhứt thiết trí. Chư Tỳ kheo bạch tôn giả Xá Lợi Phất rằng:

Mong Ðại Sư dẫn chúng tôi đến chỗ của Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ tát.

Xá Lợi Phất liền cùng chư Tỳ kheo đồng đến chỗ Văn Thù Sư Lợi Bồ tát mà bạch rằng:

Thưa Ngài, chư Tỳ kheo nầy xin được kính ra mắt Ngài.

Lúc đó, Văn Thù Sư Lợi đồng tử có vô lượng tự tại Bồ tát và đại chúng vây quanh, như tượng vương xoay mình lại nhìn các Tỳ kheo. Chư Tỳ kheo liền đảnh lễ chân Văn Thù Sư Lợi Bồ tát rồi chắp tay cung kính mà bạch rằng:

Nay chúng tôi kính ra mắt, cung kính lễ bái và những thiện căn của chúng tôi có, ngưỡng mong ngài Văn Thù Sư Lợi, Hòa thượng Xá Lợi Phất, Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni Phật đều chứng biết cho. Như ngài Văn Thù Sư Lợi có sắc thân thế nầy, âm thanh thế nầy, tướng hảo thế nầy, tự tại thế nầy, nguyện cho tôi cũng đều có đủ như vậy.

Văn Thù Sư Lợi Bồ tát bảo các Tỳ kheo rằng:

Chư Tỳ kheo! Nếu thiện nam tử hay thiện nữ nhơn thành tựu mười hạnh xu hướng pháp Đại thừa thì có thể mau nhập Như Lai địa, huống là Bồ tát địa. Ðây là mười hạnh:

Chứa nhóm tất cả thiện căn lòng không mỏi nhàm. Thấy tất cả Phật kính thờ cúng dường lòng không mỏi nhàm. Cầu tất cả Phật pháp lòng không mỏi nhàm. Thực hành tất cả hạnh ba la mật lòng không mỏi nhàm. Thành tựu tất cả Bồ tát tam muội lòng không mỏi nhàm. Thứ đệ nhập tất cả tam thế lòng không mỏi nhàm. Nghiêm tịnh khắp mười phương cõi Phật lòng không mỏi nhàm. Giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh lòng không mỏi nhàm. Ở trong tất cả cõi, tất cả kiếp thành tựu hạnh Bồ tát lòng không mỏi nhàm. Vì thành tựu một chúng sanh mà tu hành tất cả Phật sát vi trần số ba la mật, thành tựu Như Lai thập lực; thứ đệ như vậy, vì thành thục tất cả chúng sanh giới mà thành tựu Như Lai tất cả trí lực lòng không mỏi nhàm.

Chư Tỳ kheo! Nếu thiện nam tử hay thiện nữ nhơn thành tựu lòng thâm tín phát mười hạnh lòng không mỏi nhàm nầy thì có thể trưởng dưỡng tất cả thiện căn, rời bỏ tất cả những loài sanh tử, vượt khỏi tất cả chủng tánh thế gian, chẳng sa vào hàng Thanh văn, Bích chi Phật. Sanh vào nhà chư Phật Như Lai. Ðủ tất cả Bồ tát nguyện. Học tập tất cả Như Lai công đức. Tu hành tất cả hạnh Bồ tát. Ðược Như Lai trí lực xô dẹp chúng ma và các ngoại đạo, cũng có thể trừ diệt tất cả phiền não, nhập Bồ tát địa, gần Như Lai địa.

Lúc đó, chư Tỳ kheo nghe pháp nầy rồi thì được tam muội tên là Vô ngại nhãn, thấy tất cả cảnh giới Phật. Do được tam muội nầy nên đều thấy chư Phật Như Lai trong vô lượng vô biên tất cả thế giới ở mười phương và những đạo tràng chúng hội. Cũng đều thấy tất cả loài chúng sanh trong thế giới mười phương. Cũng đều thấy những sai biệt của tất cả thế giới mười phương. Cũng đều thấy những vi trần của tất cả thế giới đó. Cũng đều thấy những cung điện của chúng sanh ở trong tất cả thế giới đó, dùng các báu mà làm trang nghiêm. Và cũng nghe những ngôn âm của chư Phật Như Lai diễn thuyết các pháp, văn từ giải thích của chư Phật, nghe rồi thì đều hiểu rõ. Cũng có thể quán sát trong thế giới đó, những căn dục của tất cả chúng sanh. Cũng có thể ghi nhớ trong những thế giới đó, trước sau mười đời của tất cả chúng sanh. Cũng có thể ghi nhớ những sự trong mười kiếp quá khứ, mười kiếp vị lai của các thế giới đó. Cũng có thể ghi nhớ chư Như Lai đó mười lần bổn sanh sự, mười lần thành Chánh giác, mười lần chuyển pháp luân, mười thứ thần thông, mười thứ thuyết pháp, mười thứ giáo giới, mười thứ biện tài.

Chư Tỳ kheo nầy lại liền thành tựu mười ngàn Bồ đề tâm, mười ngàn tam muội, mười ngàn ba la mật, tất cả đều thanh tịnh. Lại được đại trí huệ viên mãn quang minh. Ðược Bồ tát mười thần thông nhu nhuyến vi diệu. Trụ Bồ tát tâm kiên cố bất động.

Lúc đó, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát khuyên các Tỳ kheo trụ hạnh Phổ Hiền. Trụ hạnh Phổ Hiền rồi nhập biển đại nguyện. Nhập biển đại nguyện rồi thành tựu biển đại nguyện. Vì thành tựu biển đại nguyện nên tâm được thanh tịnh. Vì tâm thanh tịnh nên thân được thanh tịnh. Vì thân thanh tịnh nên thân nhẹ nhàng nhậm lẹ. Vì thân thanh tịnh nhẹ nhàng nhậm lẹ nên được đại thần thông không còn thối chuyển. Vì được thần thông nầy nên chẳng rời dưới chân của ngài Văn Thù Sư Lợi, đều hiện thân mình khắp tất cả chỗ của chư Phật mười phương.Thành tựu đầy đủ tất cả Phật pháp.

*Lúc ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ tát khuyến dạy sáu ngàn Tỳ kheo phát Bồ đề tâm rồi, lần lượt đi về phía nam, trải qua nhơn gian đến phía đông Phước Thành, ở trong rừng Trang Nghiêm Tràng Ta La, chỗ đại tháp miếu mà chư Phật thuở xưa từng ngự giáo hóa chúng sanh. Nơi đây cũng là chỗ mà ngày xưa đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn lúc tu Bồ tát hạnh hay xả vô lượng sự khó xả. Do đây nên rừng nầy có tiếng đến vô lượng cõi Phật. Rừng nầy thường được sự thủ hộ cúng dường của chư Thiên, Long, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, Nhơn cùng Phi nhơn.

Lúc ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ tát và các quyến thuộc đến rừng Trang Nghiêm Tràng Ta La rồi, liền ở tại đó nói khế kinh Phổ Chiếu Pháp Giới cùng với trăm vạn ức na do tha khế kinh. Khi nói kinh nầy, trong đại hải có vô lượng trăm ngàn ức chư Long đến nghe kinh. Nghe xong chư Long đều chán thân loài rồng nên đều phát tâm cầu Phật đạo. Ðều xả thân rồng sanh trong loài người hoặc cõi trời. Một muôn chư Long được chẳng thối chuyển nơi Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Lại có vô lượng vô số chúng sanh ở trong Tam thừa đều được điều phục.

Lúc đó, người Phước Thành hay tin Ngài Văn Thù Sư Lợi đồng tử ở đại tháp miếu trong rừng Trang Nghiêm Tràng Ta La, vô lượng người ra khỏi thành đi đến rừng.

Có ưu bà tắc tên là Ðại Trí cùng quyến thuộc năm trăm ưu bà tắc, như là: Tu Ðạt Ða, Bà Tu Ðạt Ða, Phước Ðức Quang, Hữu Danh Xưng, Thí Danh Xưng, Nguyệt Ðức, Thiện Huệ, Ðại Huệ, Hiền Hộ, Hiền Thắng, v.v… đồng đến đảnh lễ chân Ngài Văn Thù Sư Lợi đồng tử, hữu nhiễu ba vòng, rồi lui ra ngồi qua một phía.

Lại có năm trăm ưu bà di, như là: Ðại Huệ, Thiện Quang, Diệu Thân, Khả Lạc Thân, Hiền Hạnh, Hiền Ðức, Hiền Quang, Tràng Quang, Ðức Quang, Thiện Mục, v.v... đồng đến đảnh lễ chân ngài Văn Thù Sư Lợi đồng tử, hữu nhiễu ba vòng rồi lui ra ngồi qua một phía.

Lại có năm trăm đồng tử, như là: Thiện Tài, Thiện Hạnh, Thiện Giới, Thiện Oai Nghi, Thiện Dũng Mãnh, Thiện Tư, Thiện Huệ, Thiện Giác, Thiện Nhãn, Thiện Tý, Thiện Quang, v.v... đồng đến đảnh lễ chân ngài Văn Thù Sư Lợi đồng tử, hữu nhiễu ba vòng rồi lui ra ngồi qua một phía.

Lại có năm đồng nữ, như là: Thiện Hiền, Ðại Trí cư sĩ nữ, Hiền Xưng, Mỹ Nhan, Kiên Huệ, Hiền Ðức, Hữu Ðức, Phạm Thọ, Ðức Quang, Thiện Quang, v.v... đồng đến đảnh lễ chân ngài Văn Thù Sư Lợi đồng tử, hữu nhiễu ba vòng rồi ngồi qua một phía.

Ngài Văn Thù Sư Lợi đồng tử biết người Phước Thành đều đã đến đông đủ, tùy tâm sở thích của họ mà hiện thân tự tại ánh sáng rực rỡ chói lấp đại chúng. Ngài dùng đại từ tự tại làm cho họ thanh lương. Dùng đại bi tự tại khởi tâm thuyết pháp. Dùng trí huệ tự tại biết tâm sở thích của họ. Dùng biện tài quảng đại sắp vì họ mà thuyết pháp.

Lúc đó, Ngài lại quán sát Thiện Tài đồng tử do cớ gì mà có tên như vậy. Ngài biết đồng tử nầy lúc mới nhập thai, trong nhà đó tự nhiên hiện ra lầu các thất bửu. Dưới lầu các có bảy phục tạng. Trên phục tạng, đất tự nứt ra mọc lên nanh thất bửu: Vàng, bạc, lưu ly, pha lê, chơn châu, xa cừ, mã não.

Sau mười tháng, Thiện Tài đản sanh thân hình tay chân đoan chánh đầy đủ. Lúc đó, bảy phục tạng từ đất trồi lên ánh sáng chói rực. Mỗi tạng báu ngang dọc cao thấp đều vuông vức bảy thước tay. Trong nhà đó lại tự nhiên có năm trăm món đồ bằng thất bửu, mọi vật đều đựng đầy trong đó. Những là: Trong chậu kim cang đựng tất cả thứ hương thơm. Trong chậu hương đựng các thứ y phục. Trong bát mỹ ngọc đựng các thứ thực phẩm thượng diệu. Trong bát ma ni đựng đầy những thứ trân bửu đẹp lạ. Bình vàng đựng bạc. Bình bạc đựng vàng. Trong bình vàng bạc đựng đầy ngọc lưu ly và ma ni. Trong bình pha lê đựng đầy xa cừ. Trong bình xa cừ đựng đầy pha lê. Trong bình mã não đựng đầy chơn châu. Trong bình chơn châu đựng đầy mã não. Bình hỏa ma ni đựng đầy thủy ma ni. Bình thủy ma ni đựng đầy hỏa ma ni.

Năm trăm đồ đựng châu bửu như vậy tự nhiên xuất hiện. Nơi đó lại mưa các châu bửu và những tài vật làm cho tất cả kho đụn trong nhà đó đều đầy ngập. Do cớ trên đây nên cha mẹ thân thuộc và tướng sư đều kêu đứa trẻ ấy là Thiện Tài.

Ngài Văn Thù Sư Lợi đồng tử lại biết Thiện Tài đã từng cúng dường quá khứ chư Phật, gieo sâu căn lành, tin hiểu rộng lớn, thường thích gần gũi các thiện tri thức. Thân, ngữ, ý đều không lỗi lầm. Tu Bồ tát đạo cầu Nhứt thiết trí thành Phật pháp khí. Tâm đồng tử nầy thanh tịnh như hư không, hồi hướng Bồ đề không chướng ngại.

Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ tát quán sát Thiện Tài như vậy rồi, liền an ủi chỉ dạy tất cả Phật pháp. Những là nói pháp tích tập của tất cả Phật, pháp tương tục của tất cả Phật, pháp thứ đệ của tất cả Phật, pháp chúng hội thanh tịnh của tất cả Phật, pháp pháp luân hóa đạo của tất cả Phật, pháp sắc thân tướng hảo của tất cả Phật, pháp pháp thân thành tựu của tất cả Phật, pháp ngôn từ biện tài của tất cả Phật, pháp quang minh chiếu diệu của tất cả Phật, pháp bình đẳng vô nhị của tất cả Phật.

Ngài Văn Thù Sư Lợi đồng tử vì Thiện Tài đồng tử và đại chúng mà nói những pháp như vậy rồi, lại ân cần khuyên dạy cho họ tăng trưởng đạo lực, cho họ hoan hỷ phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Lại làm cho họ tự ghi nhớ thiện căn thuở quá khứ. Ngài lại vì tất cả đại chúng mà tùy nghi thuyết pháp. Sau đó Ngài rời rừng mà đi.

Thiện Tài đồng tử được nghe pháp nơi ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, được nghe những công đức của chư Phật như vậy, liền nhứt tâm cần cầu Vô thượng Bồ đề, đi theo ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ tát mà nói kệ rằng:

Ba cõi làm thành quách

Kiêu mạn làm tường vách

Các loài làm cửa nẻo

Nước ái làm hào ao

Tối ngu si đậy che

Lửa tham sân cháy rực

Ma vương làm quân chủ

Trẻ khờ ở trong đó.

Tham ái làm dây trói

Dua dối làm cương yên

Nghi hoặc che đôi mắt

Thẳng vào những đường tà.

Vì đầy tham ganh kiêu

Vào nơi ba đường ác

Hoặc đọa trong các loài

Khổ sanh già bịnh chết.

Mặt nhựt trí thanh tịnh

Vầng tròn đầy đại bi

Hay cạn biển phiền não

Xin ban diệu quán sát.

Mặt nguyệt trí thanh tịnh

Vầng trong sạch đại từ

Ban an vui tất cả

Xin thương soi xét tôi.

Vua tất cả pháp giới

Pháp bửu làm tiên đạo

Du không chẳng chướng ngại

Xin thương dạy bảo tôi.

Ðại thương chủ phước trí.

Dũng mãnh cầu Bồ đề

Lợi khắp các quần sanh

Xin thương thủ hộ tôi.

Thân mặc giáp nhẫn nhục

Tay cầm gươm trí huệ

Tự tại hàng quân ma

Xin thương cứu vớt tôi.

Ở đảnh pháp Tu Di

Ðịnh nữ thường hầu hạ

Diệt hoặc A tu la

Ðế Thích xin xem tôi.

Nhà ba cõi phàm ngu

Hoặc nghiệp khổ luân chuyển

Ngài đã điều phục cả

Như đèn sáng soi đường.

Bỏ rời những ác thú

Thanh tịnh những đường lành

Bực vượt hẳn thế gian

Dạy tôi môn giải thoát.

Thế gian chấp điên đảo

Thường thích tưởng ngã tịnh

Trí nhãn đều rời được

Dạy tôi môn giải thoát.

Khéo biết đường tà chánh

Biết rõ tâm không khiếp

Ðấng quyết rành tất cả

Dạy tôi đường Bồ đề.

Trụ bực Phật chánh kiến

Lớn cây Phật công đức

Rưới bông Phật diệu pháp

Dạy tôi đường Bồ đề.

Khứ, lai, hiện tại Phật

Xứ xứ đều cùng khắp

Như mặt nhựt mọc lên

Vì tôi dạy đạo đó.

Khéo biết tất cả nghiệp

Thấu rõ hạnh các thừa

Người trí huệ quyết định

Dạy tôi pháp Đại thừa.

Bánh nguyện, gọng đại bi,

Tín trục, vành kiên nhẫn

Báu công đức trang nghiêm

Cho tôi ngồi xe nầy.

Rương tổng trì quảng đại

Lọng từ mẫn trang nghiêm

Linh biện tài reo vang.

Khiến tôi ngồi xe nầy.

Phạm hạnh làm nệm êm

Tam muội làm thể nữ

Trống pháp rền tiếng mầu

Cho tôi ngồi xe nầy.

Tứ nhiếp tạng vô tận

Báu công đức trang nghiêm

Tàm quý làm yên cương

Ban cho tôi xe nầy.

Thường rong xe bố thí

Hằng xoa hương tịnh giới

Bò nhẫn nhục trang nghiêm

Cho tôi ngồi xe nầy.

Thùng thiền định tam muội

Ách trí huệ phương tiện

Ðiều phục chẳng thối chuyển

Cho tôi ngồi xe nầy.

Xe đại nguyện thanh tịnh

Sức tổng trì kiên cố

Trí huệ được thành tựu

Cho tôi ngồi xe nầy.

Phổ hạnh làm đi khắp

Bi tâm thong thả đi

Ðến đâu đều không khiếp

Cho tôi ngồi xe nầy.

Kiên cố như kim cang

Thiện xảo như huyễn hóa

Tất cả không chướng ngại.

Cho tôi ngồi xe nầy.

Quảng đại rất thanh tịnh

Khắp ban chúng sanh vui

Ðồng hư không pháp giới

Cho tôi ngồi xe nầy.

Sạch những vòng nghiệp hoặc

Dứt những khổ lưu chuyển

Dẹp ma và ngoại đạo

Cho tôi ngồi xe nầy.

Trí huệ khắp mười phương

Trang nghiêm khắp pháp giới

Thỏa nguyện của chúng sanh

Cho tôi ngồi xe nầy.

Thanh tịnh như hư không

Ái, kiến đều trừ diệt

Lợi ích tất cả chúng

Cho tôi ngồi xe nầy.

Nguyện lực đi mau chóng

Ðịnh tâm an ổn trụ

Chở khắp các hàm thức

Cho tôi ngồi xe nầy.

Như đại địa chẳng động

Như nước lợi ích cả

Chở chúng sanh như vậy

Cho tôi ngồi xe nầy.

Vầng tứ nhiếp viên mãn.

Sáng tổng trì thanh tịnh

Mặt nhựt huệ như vậy

Xin dạy cho tôi thấy.

Ðã vào ngôi Pháp Vương

Ðã đội mão Trí vương

Ðã vấn lụa Diệu pháp

Xin thương chiếu cố tôi.

Lúc đó, Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, như Tượng vương, xoay nhìn Thiện Tài đồng tử mà bảo rằng:

Lành thay! Lành thay! Nầy thiện nam tử! Ngươi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề, lại muốn thân cận các bực thiện tri thức để hỏi Bồ tát hạnh, tu Bồ tát đạo.

Nầy thiện nam tử! Thân cận cúng dường các bực thiện tri thức là nhơn duyên trước nhứt để được đầy đủ Nhứt thiết trí. Vì thế nên công việc nầy ngươi chớ có mỏi nhàm.

Thiện Tài đồng tử bạch rằng:

Cúi xin đức Thánh vì tôi mà dạy Bồ tát phải học Bồ tát hạnh thế nào? Phải tu Bồ tát hạnh thế nào? Phải đến Bồ tát hạnh thế nào? Phải thực hành Bồ tát hạnh thế nào? Phải tịnh Bồ tát hạnh thế nào? Phải nhập Bồ tát hạnh thế nào? Phải thành tựu Bồ tát hạnh thế nào? Phải tùy thuận Bồ tát hạnh thế nào? Phải ghi nhớ Bồ tát hạnh thế nào? Phải thêm rộng Bồ tát hạnh thế nào? Phải làm thế nào cho Phổ Hiền hạnh mau được viên mãn.

Lúc đó, Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ tát vì Thiện Tài đồng tử mà nói kệ rằng:

Lành thay tạng công đức

Có thể đến gặp ta

Phát khởi tâm đại bi

Siêng cầu Vô thượng giác.

Ðã phát nguyện rộng lớn

Diệt trừ khổ chúng sanh

Vì khắp các chúng sanh

Tu hành Bồ tát hạnh.

Nếu có các Bồ tát

Chẳng nhàm khổ sanh tử

Thì đủ đạo Phổ Hiền

Tất cả không hoại được.

Phước quang, phước oai lực

Phước xứ, phước tịnh hải

Ngươi vì khắp chúng sanh

Nguyện tu Phổ Hiền hạnh.

Ngươi thấy vô biên tế

Mười phương tất cả Phật

Khắp nghe Phật thuyết pháp

Thọ trì chẳng quên mất.

Ngươi ở mười phương cõi

Thấy khắp vô lượng Phật

Thành tựu những nguyện hải

Ðầy đủ Bồ tát hạnh.

Nếu nhập phương tiện hải

An trụ Phật Bồ đề

Hay theo Ðạo sư học

Sẽ thành Nhứt thiết trí.

Khắp tất cả quốc độ

Số kiếp như vi trần

Ngươi tu hạnh Phổ Hiền

Thành tựu Bồ đề đạo.

Ở vô lượng cõi nước

Trong vô biên kiếp hải

Ngươi tu hạnh Phổ Hiền

Thành mãn những đại nguyện.

Vô lượng chúng sanh đây

Nghe ngươi nguyện đều mừng

Ðều phát tâm Bồ đề

Nguyện học hạnh Phổ Hiền.

Nói kệ xong, Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ tát bảoThiện Tài đồng tử rằng:

Lành thay! Lành thay! Nầy thiện nam tử! Ngươi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề, cầu hạnh Bồ tát.

Nầy thiện nam tử! Nếu có chúng sanh phát tâm Vô thượng Bồ đề, đây là việc rất khó. Ðã có thể phát Bồ đề tâm rồi lại cầu Bồ tát hạnh, việc nầy càng khó gấp bội.

Nầy thiện nam tử! Nếu muốn thành tựu Nhứt thiết chủng trí thì phải quyết định cầu chơn thiện tri thức.

Nầy thiện nam tử! Cầu thiện tri thức chớ có mỏi lười. Thấy thiện tri thức chớ có nhàm đủ. Thiện tri thức có dạy bảo điều chi phải đều tùy thuận. Nơi thiện xảo phương tiện của thiện tri thức chớ thấy lỗi lầm. Phương nam nầy có một nước tên là Thắng Lạc. Trong nước Thắng Lạc có tòa núi tên là Diệu Phong. Trên núi đó có một Tỳ kheo tên là Ðức Vân. Ngươi nên đến hỏi Tỳ kheo Ðức Vân: Bồ tát phải học Bồ tát hạnh thế nào? Phải tu Bồ tát hạnh thế nào? Nhẫn đến phải như thế nào để được mau viên mãn hạnh Phổ Hiền?
Tỳ kheo Ðức Vân sẽ chỉ bảo cho ngươi.

Thiện Tài đồng tử nghe xong hớn hở vui mừng, đảnh lễ Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, hữu nhiễu vô số vòng, ân cần chiêm ngưỡng, rơi lệ từ tạ mà đi qua hướng nam, đến nước Thắng Lạc, lên núi Diệu Phong. Ở trên núi đó xem ngó tìm kiếm khắp bốn phía, lòng khao khát muốn được gặp Tỳ kheo Ðức Vân. Bảy ngày sau mới được thấy Tỳ kheo Ðức Vân ở trên ngọn núi khác đi kinh hành chẫm rãi.

Thấy xong, Thiện Tài đồng tử liền đến đảnh lễ chân Tỳ kheo Ðức Vân, hữu nhiễu ba vòng cung kính đứng trước Ðức Vân mà bạch rằng:

Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề, mà chưa biết Bồ tát phải học Bồ tát hạnh thế nào? Phải tu Bồ tát hạnh thế nào? Nhẫn đến phải thế nào để được mau viên mãn hạnh Phổ Hiền? Tôi nghe đức Thánh khéo có thể dạy bảo, mong đức Thánh thương xót dạy cho tôi thế nào Bồ tát được thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Ðức Vân Tỳ kheo bảo Thiện Tài đồng tử rằng:

Lành thay! Lành thay! Nầy thiện nam tử! Ngươi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề, lại có thể hỏi hạnh của Bồ tát. Việc như vậy là sự khó trong những sự khó. Những là cầu Bồ tát hạnh, cầu Bồ tát cảnh giới, cầu đạo xuất ly của Bồ tát, cầu đạo thanh tịnh của Bồ tát, cầu tâm thanh tịnh quảng đại của Bồ tát, cầu Bồ tát thành tựu thần thông, cầu Bồ tát thị hiện môn giải thoát, cầu Bồ tát thị hiện việc làm tại thế gian, cầu Bồ tát tùy thuận tâm của chúng sanh, cầu môn sanh tử Niết bàn của Bồ tát, cầu Bồ tát quán sát hữu vi, vô vi tâm không chấp trước.

Nầy thiện nam tử! Ta được sức thắng giải tự tại quyết định, tín nhãn thanh tịnh, trí quang chói sáng, thấy khắp các cảnh giới khỏi tất cả chướng ngại, quán sát khéo léo, phổ nhãn sáng suốt, đủ hạnh thanh tịnh. Qua đến tất cả cõi nước mười phương cung kính cúng dường tất cả chư Phật. Thường nhớ tất cả chư Phật Như Lai. Tổng trì tất cả chánh pháp của chư Phật. Thường thấy tất cả chư Phật mười phương.

Những là thấy phương đông một đức Phật, hai đức Phật, mười đức Phật, trăm đức Phật, ngàn đức Phật, ức đức Phật, trăm ức đức Phật, ngàn ức đức Phật, trăm ngàn ức đức Phật, na do tha ức đức Phật, trăm na do tha ức đức Phật, ngàn na do tha ức đức Phật, trăm ngàn na do tha ức đức Phật, nhẫn đến thấy vô số, vô lượng, vô biên, vô đẳng, bất khả sổ, bất khả xưng, bất khả tư, bất khả lượng, bất khả thuyết, bất khả thuyết bất khả thuyết đức Phật. Nhẫn đến thấy chư Phật bằng số vi trần trong Diêm Phù Ðề, bằng số vi trần trong bốn châu thiên hạ, bằng số vi trần trong Tiểu thiên thế giới, bằng số vi trần trong nhị thiên thế giới bằng số vi trần trong Đại thiên thế giới, bằng số Phật sát vi trần, nhẫn đến thấy chư Phật bằng số bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần.

Như phương đông, chín phương kia cũng đều thấy như vậy. Chư Phật trong mỗi phương, những sắc tướng, những hình mạo, những thần thông, những du hý, những chúng hội trang nghiêm đạo tràng, những quang minh chiếu sáng vô biên, những quốc độ, những thọ mạng. Tùy những cơ nghi của chúng sanh mà chư Phật thị hiện những môn thành Ðẳng Chánh Giác, làm sư tử hống trong đại chúng.

Nầy thiện nam tử! Ta chỉ được pháp môn Ức niệm nhứt thiết chư Phật cảnh giới trí huệ quang minh phổ kiến nầy thôi. Ðâu biết hết được vô biên trí huệ thanh tịnh hạnh môn của đại Bồ tát. Những là: Trí quang phổ chiếu niệm Phật môn, vì thường thấy tất cả chư Phật quốc độ những cung điện đều trang nghiêm thanh tịnh. Môn làm cho tất cả chúng sanh niệm Phật, vì tùy cơ của tâm chúng sanh đều làm cho họ được thấy Phật, tâm họ được thanh tịnh. Môn làm cho an trụ nơi lực niệm Phật, vì làm cho họ nhập vào thập lực của Như Lai. Môn làm cho an trụ nơi pháp niệm Phật, vì thấy vô lượng Phật được nghe pháp. Môn niệm Phật chói sáng các phương, vì đều thấy trong tất cả thế giới chư Phật bình đẳng không sai biệt. Môn niệm Phật vào chỗ bất khả kiến, vì đều thấy trong tất cả cảnh vi tế những sự thần thông tự tại của chư Phật. Môn niệm Phật an trụ trong các kiếp, vì trong tất cả kiếp thường thấy những việc làm không tạm bỏ của chư Phật. Môn niệm Phật an trụ trong tất cả thời gian, vì trong tất cả thời gian thường thấy đức Như Lai gần gũi đồng ở chẳng rời bỏ. Môn niệm Phật an trụ tất cả cõi, vì tất cả quốc độ đều thấy thân Phật vượt hơn tất cả không gì sánh bằng. Môn niệm Phật an trụ tất cả đời, vì tùy tâm sở thích thấy khắp tam thế chư Phật. Môn niệm Phật an trụ tất cả cảnh, vì ở khắp trong tất cả cảnh giới thấy chư Như Lai thứ đệ xuất hiện. Môn niệm Phật an trụ tịch diệt, vì trong một niệm thấy tất cả cõi, tất cả chư Phật thị hiện Niết bàn. Môn niệm Phật an trụ viễn ly, vì trong một niệm thấy tất cả Phật từ nơi chỗ ở mà ra đi. Môn niệm Phật an trụ quảng đại, vì tâm thường quán sát mỗi thân Phật đầy khắp tất cả pháp giới. Môn niệm Phật an trụ vi tế, vì trong một chân lông có bất khả thuyết Như Lai xuất hiện, đều đến chỗ Phật mà kính thờ. Môn niệm Phật an trụ trang nghiêm, vì trong một niệm thấy tất cả cõi đều có chư Phật thành Ðẳng Chánh Giác hiện thần biến. Môn niệm Phật an trụ năng sự, vì thấy tất cả Phật xuất hiện thế gian, phóng trí huệ quang chuyển diệu pháp luân. Môn niệm Phật trụ tâm tự tại, vì biết tùy theo sở thích của tự tâm, tất cả chư Phật hiện hình tượng. Môn niệm Phật an trụ nơi tự nghiệp, vì biết tùy nghiệp tích tập của chúng sanh mà hiện hình tượng làm cho họ được giác ngộ. Môn niệm Phật an trụ thần biến, vì thấy Liên hoa quảng đại của Phật ngự nở xòe khắp pháp giới. Môn niệm Phật an trụ hư không, vì quán sát những thân của Như Lai trang nghiêm pháp giới hư không giới. Như vậy ta làm sao biết được nói được những công đức hạnh của đại Bồ tát.

Nầy thiện nam tử! Phương nam có một nước tên là Hải Môn, nơi đó có Tỳ kheo tên là Hải Vân. Ngươi đến hỏi Hải Vân rằng Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, tu Bồ tát đạo? Hải Vân Tỳ kheo có thể phân biệt nói nhơn duyên phát khởi thiện căn quảng đại.

Nầy thiện nam tử! Hải Vân Tỳ kheo sẽ làm cho ngươi nhập ngôi trợ đạo quảng đại, sẽ làm cho ngươi sanh sức thiện căn quảng đại, sẽ vì ngươi mà nói nhơn duyên phát tâm Bồ đề, sẽ làm cho ngươi sanh quang minh Đại thừa quảng đại, sẽ làm cho ngươi tu ba la mật quảng đại, sẽ làm cho ngươi nhập những hạnh hải quảng đại, sẽ làm cho ngươi viên mãn thệ nguyện quảng đại, sẽ làm cho ngươi tịnh môn trang nghiêm quảng đại, sẽ làm cho ngươi sanh sức từ bi quảng đại.

Lúc đó, Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân Ðức Vân Tỳ kheo, hữu nhiễu quán sát, từ tạ mà đi.

Thiện Tài đồng tử nhứt tâm suy gẫm lời dạy của thiện tri thức. Chánh niệm quán sát Trí huệ quang minh môn, Bồ tát giải thoát môn, Bồ tát tam muội môn, Bồ tát đại hải môn, Chư Phật hiện tiền môn, Chư Phật phương sở môn, Chư Phật quỹ tắc môn, Chư Phật đẳng hư không giới môn, Chư Phật xuất hiện thứ đệ môn, Chư Phật sở nhập phương tiện môn.

Thiện Tài đồng tử đi lần qua phương nam đến nước Hải Môn, đến chỗ Hải Vân Tỳ kheo, đảnh lễ chân Hải Vân, hữu nhiễu xong, chắp tay bạch rằng:

Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề, muốn nhập tất cả trí hải vô thượng, mà chưa biết Bồ tát thế nào có thể bỏ nhà thế tục sanh vào nhà Như Lai? Thế nào có thể qua khỏi biển sanh tử vào được biển Phật trí? Thế nào lìa được hàng phàm phu vào được hàng Như Lai? Thế nào dứt được dòng sanh tử vào được dòng Bồ tát hạnh? Thế nào phá được xe sanh tử thành xe Bồ tát nguyện? Thế nào diệt được cảnh giới ma hiển được cảnh giới Phật? Thế nào cạn được biển ái dục thêm lớn biển đại bi? Thế nào đóng được cửa các nạn, các ác đạo mở được cửa đại Niết bàn? Thế nào ra khỏi thành tam giới vào được thành Nhứt thiết trí? Thế nào vất bỏ được tất cả vật quý tốt để đem lợi ích tất cả chúng sanh?

Hải Vân Tỳ kheo bảo Thiện Tài đồng tử rằng:

Thiện nam tử! Người đã phát tâm Vô thượng Bồ đề rồi ư?

Thiện Tài thưa:

Vâng, tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề.

Hải Vân Tỳ kheo nói:

Thiện nam tử! Nếu các chúng sanh chẳng gieo căn lành thì chẳng thể phát tâm Vô thượng Bồ đề. Cần phải được phổ môn thiện căn quang minh, đủ chơn thiệt đạo tam muội trí quang, xuất sanh những phước hải quảng đại, tăng trưởng pháp bạch tịnh không có lười nghỉ, thờ thiện trí thức chẳng mỏi nhàm, chẳng kể thân mạng, không thể cất chứa, tâm bình đẳng như mặt đất không có niệm cao hạ, tánh thường từ mẫn với tất cả chúng sanh, nơi các loài sanh tử chuyên niệm chẳng bỏ, hằng thích quán sát cảnh giới Như Lai. Có như vậy mới phát được tâm Vô thượng Bồ đề.

Phát Bồ đề tâm là phát tâm đại bi, vì cứu khắp tất cả chúng sanh. Là phát tâm đại từ, vì khắp giúp tất cả thế gian. Là phát tâm an lạc, vì làm cho tất cả chúng sanh diệt tất cả khổ. Phát tâm lợi ích, vì làm cho tất cả chúng sanh lìa ác pháp. Phát tâm ai mẫn, vì có ai kinh sợ thì đều giữ gìn. Phát tâm vô ngại, vì rời bỏ tất cả chướng ngại. Phát tâm quảng đại, vì tất cả pháp giới đều đầy khắp. Phát tâm vô biên, vì khắp cõi hư không đều qua đến. Phát tâm rộng rãi, vì đều thấy tất cả Như Lai. Phát tâm thanh tịnh, vì trí không trái với pháp tam thế. Phát tâm trí huệ, vì vào khắp biển Nhứt thiết trí huệ.

Nầy thiện nam tử! Ta ở nước Hải Môn nầy đã mười hai năm, thường dùng đại hải làm cảnh giới. Những là suy gẫm đại hải quảng đại vô lượng. Suy gẫm đại hải rất sâu khó lường. Suy gẫm đại hải lần lần sâu rộng. Suy gẫm đại hải vô lượng châu báu kỳ diệu trang nghiêm. Suy gẫm đại hải chứa vô lượng nước. Suy gẫm đại hải màu nước chẳng đồng không thể nghĩ bàn. Suy gẫm đại hải là chỗ ở vô lượng chúng sanh. Suy gẫm đại hải dung thọ những chúng sanh thân to lớn. Suy gẫm đại hải nạp thọ được nước của trận mưa lớn. Suy gẫm đại hải không tăng, không giảm.

Nầy thiện nam tử! Lúc suy gẫm như vậy, ta lại nghĩ rằng: Trong thế gian còn có gì rộng lớn hơn đại hải nầy chăng? Còn có gì vô lượng hơn đại hải nầy chăng? Còn có gì rất sâu hơn đại hải nầy chẳng? Còn có gì báu lạ hơn đại hải nầy chăng?

Nầy thiện nam tử! Lúc ta suy gẫm như vậy, bỗng có đại liên hoa xuất hiện. Liên hoa nầy cọng bằng vô năng thắng nhơn đà la ni la bửu, cánh bằng phệ lưu ly bửu, lá bằng vàng diêm phù đàn, đài bằng trầm thủy, tua bằng mã não, nở thơm lan khắp trùm che cả đại hải.

Trăm vạn A tu la vương cầm lấy cọng hoa. Trăm vạn châu ma ni kết lưới trang nghiêm giăng che trên hoa. Trăm vạn Long vương mưa nước thơm. Trăm vạn Ca lâu la vương ngậm những chuỗi ngọc và dãi lụa báu rũ thòng bốn phía. Trăm vạn La sát vương từ tâm quán sát. Trăm vạn Dạ xoa vương cung kính đảnh lễ. Trăm vạn Càn thát bà vương nhiều thứ âm nhạc tán thán cúng dường. Trăm vạn Thiên Vương mưa những Thiên hoa, Thiên man, Thiên hương, Thiên thiêu hương, Thiên đồ hương, Thiên mạt hương, Thiên y phục, Thiên tràng, Thiên phan, Thiên cái. Trăm vạn Phạm Vương đảnh lễ cung kính. Trăm vạn Tịnh Cư Thiên chắp tay làm lễ. Trăm vạn Chuyển Luân Vương cúng dường thất bửu trang nghiêm. Trăm vạn Hải Thần đồng xuất hiện cung kính đảnh lễ. Trăm vạn vị quang ma ni bửu quang minh chiếu khắp. Trăm vạn tịnh phước ma ni bửu dùng để trang nghiêm. Trăm vạn phổ quang ma ni bửu làm tạng thanh tịnh. Trăm vạn thù thắng ma ni bửu ánh sáng rực rỡ. Trăm vạn diệu tạng ma ni bửu quang chiếu vô biên. Trăm vạn diêm phù đàn ma ni bửu thứ đệ bày hàng. Trăm vạn kim cang sư tử ma ni bửu chẳng thể phá hoại thanh tịnh trang nghiêm. Trăm vạn nhật tạng ma ni bửu quảng đại thanh tịnh. Trăm vạn khả lạc ma ni bửu đủ mọi màu. Trăm vạn như ý ma ni bửu trang nghiêm vô tận, quang minh chiếu rực.

Liên hoa lớn nầy có ra là do thiện căn xuất thế của Như Lai. Tất cả Bồ tát đều sanh lòng tin mến. Thập phương thế giới đều hiện tiền. Từ như huyễn pháp mà sanh, như mộng pháp mà sanh, thanh tịnh nghiệp mà sanh. Trang nghiêm bằng pháp môn vô tránh. Nhập ấn vô vi. Trụ môn vô ngại. Sung mãn tất cả quốc độ mười phương. Tùy thuận cảnh giới thậm thâm của chư Phật.

Trong vô số trăm ngàn kiếp ca ngợi công đức đó cũng không hết được. Lúc đó, ta thấy trên liên hoa lớn ấy có một đức Như Lai ngồi kiết già. Thân Phật từ đây cao đến trời Hữu Ðảnh. Tòa bửu liên hoa bất tư nghì. Ðạo tràng chúng hội bất tư nghì. Những tướng hảo thành tựu bất tư nghì. Tùy hảo viên mãn bất tư nghì. Thần thông biến hóa bất tư nghì. Sắc tướng thanh tịnh bất tư nghì. Vô kiến đảnh tướng bất tư nghì. Tướng lưỡi rộng dài bất tư nghì. Ngôn thuyết thiện xảo bất tư nghì. Âm thanh viên mãn bất tư nghì. Lực vô biên tế bất tư nghì. Thanh tịnh vô úy bất tư nghì. Biện tài quảng đại bất tư nghì.

Ta lại nghĩ nhớ đức Phật đó thuở xưa tu hành bất tư nghì. Tự tại thành đạo bất tư nghì. Diệu âm diễn pháp bất tư nghì. Phổ môn thị hiện các thứ trang nghiêm bất tư nghì. Tùy hai bên thấy Phật đều sai khác bất tư nghì. Tất cả sự lợi ích đều làm cho viên mãn bất tư nghì.

Lúc đó, đức Như Lai ấy liền đưa tay hữu rờ đảnh đầu của ta, vì ta mà diễn nói Phổ nhãn pháp môn, khai thị cảnh giới tất cả Như Lai, hiển pháp tất cả hạnh Bồ tát, xiển minh tất cả diệu pháp của chư Phật, tất cả pháp luân đều nhập trong đó. Có thể thanh tịnh tất cả Phật độ. Có thể dẹp tất cả dị đạo tà luận. Có thể diệt tất cả quân ma. Có thể làm cho chúng sanh đều sanh hoan hỷ. Có thể soi tất cả tâm hành của các chúng sanh. Có thể biết những căn cơ của tất cả chúng sanh, tùy tâm chúng sanh đều làm cho được khai ngộ.

Ở nơi đức Như Lai ấy, ta được nghe pháp môn nầy, thọ trì đọc tụng, ghi nhớ quán sát.

Giả sử có người dùng nước mực nhiều như nước đại hải, cây viết chất đống lớn như núi Tu Di, biên chép pháp môn phổ nhãn nầy, một môn trong một phẩm, một pháp trong một môn, một nghĩa trong một pháp, một câu trong một nghĩa cũng viết chẳng được ít phần huống là có thể viết hết.

Nầy thiện nam tử! Ở nơi đức Phật ấy, ta thọ trì pháp môn Phổ nhãn như vậy trọn một ngàn hai trăm năm. Trong mỗi ngày, ta dùng Văn trì đà la ni quang minh lãnh thọ vô số phẩm. Dùng Tịch tịnh môn đà la ni quang minh xu nhập vô số phẩm. Dùng Vô biên triền đà la ni quang minh vào khắp vô số phẩm. Dùng Tùy tha quán sát đà la ni quang minh phân biệt vô số phẩm. Dùng Oai lực đà la ni quang minh nhiếp khắp vô số phẩm. Dùng Liên hoa trang nghiêm đà la ni quang minh dẫn phát vô số phẩm. Dùng Thanh tịnh ngôn âm đà la ni quang minh khai diễn vô số phẩm. Dùng Hư không tạng đà la ni quang minh hiển thị vô số phẩm. Dùng Quang tụ đà la ni quang minh thêm rộng vô số phẩm. Dùng Hải tạng đà la ni quang minh luận biện phân tích vô số phẩm.

Nếu có chúng sanh từ mười phương đến, hoặc Thiên, hoặc Thiên vương, hoặc Long, hoặc Long vương, hoặc Dạ xoa, hoặc Dạ xoa vương, hoặc Càn thát bà, hoặc Càn thát bà vương, hoặc A tu la, hoặc A tu la vương, hoặc Ca lâu la, hoặc Ca lâu la vương, hoặc Khẩn na la, hoặc Khẩn na la vương, hoặc Ma hầu la già, hoặc Ma hầu la già vương, hoặc Nhơn, hoặc Nhơn vương, hoặc Phạm hoặc Phạm vương. Tất cả đại chúng như vậy đều đến chỗ ta. Ta đều vì họ mà khai thị giải thích xưng dương tán thán. Ðều làm cho họ mến thích xu nhập an trụ quang minh Phổ nhãn pháp môn nầy.

Nầy thiện nam tử! Ta chỉ biết Phổ nhãn pháp môn nầy. Như chư đại Bồ tát thâm nhập tất cả Bồ tát hạnh hải, vì tùy nguyện lực mà tu hành. Nhập đại nguyện hải vì ở thế gian trong vô lượng kiếp. Nhập tất cả chúng sanh hải, vì tùy tâm sở thích của họ để rộng lợi ích. Nhập nhứt thiết chúng sanh tâm hải, vì xuất sanh thập phương vô ngại trí quang. Nhập nhứt thiết chúng sanh căn hải vì đáng tùy nghi giáo hóa đều làm cho điều phục. Nhập tất cả sát hải, vì thành mãn bổn nguyện nghiêm tịnh Phật độ. Nhập tất cả Phật hải, vì nguyện thường cúng dường chư Như Lai. Nhập tất cả pháp hải, vì có thể dùng trí huệ đều ngộ nhập. Nhập tất cả công đức hải, vì mỗi mỗi tu hành cho được đầy đủ. Nhập tất cả chúng sanh ngôn từ hải, vì ở tất cả cả cõi chuyển chánh pháp luân… Như thế thì ta làm sao biết được nói được công đức hạnh đó.

Nầy thiện nam tử! Từ đây qua phương nam sáu mươi do tuần, bên đường Lăng Già, có một tụ lạc tên là Hải Ngạn. Ở đó có Tỳ kheo tên là Thiện Trụ. Ngươi nên đến đó hỏi Bồ tát phải thế nào tịnh Bồ tát hạnh?

Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân Hải Vân Tỳ kheo, hữu nhiễu chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.

Lúc đó, Thiện Tài đồng tử chuyên niệm lời dạy của thiện tri thức, chuyên niệm Phổ nhãn pháp môn, chuyên niệm Phật thần lực, chuyên trì Pháp cú vân, chuyên nhập Pháp hải môn, chuyên gẫm pháp sai biệt, thâm nhập pháp xoay chuyển vào khắp pháp hư không, trừ sạch pháp ế chướng, quán sát pháp bửu xứ.

Thiện tài đồng tử vừa tư duy suy gẫm đi lần qua phương nam, đến bên đường Lăng Già, nơi tụ lạc Hải Ngạn, xem xét mười phương tìm cầu Thiện Trụ Tỳ kheo. Thấy Thiện Trụ Tỳ kheo đi kinh hành qua lại ở trên hư không. Có vô số chư Thiên cung kính vây quanh rưới những Thiên hoa, trỗi Thiên kỹ nhạc, tràng phan gấm lụa thảy đều nhiều vô số đầy khắp hư không để cúng dường.

Chư đại Long vương ở giữa hư không nổi bất tư nghì mây trầm thủy hương, chấn sấm, xẹt chớp, dùng để cúng dường. Khẩn na la vương trỗi những tiếng nhạc, đúng pháp ca ngợi, dùng đây để cúng dường. Ma hầu la già vương dùng bất tư nghì y phục rất vi tế trải giăng trần thiết, lòng rất hoan hỷ, để cúng dường. A tu la vương nổi bất tư nghì mây ma ni bửu, vô lượng quang minh các thứ trang nghiêm đồng khắp hư không dùng để cúng dường. Ca lâu la vương hiện hình đồng tử, có vô lượng thể nữ vây quanh, rốt ráo thành tựu tâm không sát hại, ở giữa hư không chắp tay cúng dường. Bất tư nghì số các La sát vương, vô lượng La sát vây quanh, thân hình cao lớn đáng kinh sợ, thấy Thiện Trụ Tỳ kheo từ tâm tự tại, liền chắp tay khom mình chiêm ngưỡng cúng dường. Bất tư nghì số các Dạ xoa vương, mỗi vị đều có chúng của mình vây quanh, bao vòng bốn phía cung kính thủ hộ. Bất tư nghì số các Phạm Thiên vương, ở giữa hư không, cúi mình chắp tay dùng pháp nhơn gian tán dương ca ngợi. Bất tư nghì số các Tịnh Cư Thiên, với cung điện ở giữa hư không, chắp tay cung kính phát hoằng thệ nguyện.

Thiện Tài đồng tử thấy những sự trên đây, lòng hoan hỷ chắp tay kính lễ Thiện Trụ Tỳ kheo rồi bạch rằng:

Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề mà chưa biết Bồ tát thế nào tu hành Phật pháp? Thế nào tích tập Phật pháp? Thế nào đầy đủ Phật pháp? Thế nào huân tập Phật pháp? Thế nào tăng trưởng Phật pháp? Thế nào tổng nhiếp Phật pháp? Thế nào cứu cánh Phật pháp? Thế nào tịnh trị Phật pháp? Thế nào thâm tịnh Phật pháp? Thế nào thông đạt Phật pháp?

Tôi nghe đức Thánh hay khéo dạy bảo. Ngưỡng mong xót thương vì tôi mà tuyên nói Bồ tát thế nào chẳng bỏ thấy Phật, thường ở chỗ Phật siêng năng tu tập? Bồ tát thế nào chẳng bỏ Phật pháp đều dùng trí huệ mà được minh chứng? Bồ tát thế nào chẳng bỏ đại nguyện có thể lợi ích khắp tất cả chúng sanh? Bồ tát thế nào chẳng bỏ chúng sanh trụ tất cả kiếp không lòng mỏi nhàm? Bồ tát thế nào chẳng bỏ Phật độ có thể nghiêm tịnh tất cả thế giới? Bồ tát thế nào chẳng bỏ Phật lực đều có thể thấy biết Như Lai tự tại? Bồ tát thế nào chẳng bỏ hữu vi mà cũng chẳng trụ hữu vi, ở trong tất cả loài hữu lậu, dường như biến hóa, thị hiện thọ sanh tử tu Bồ tát hạnh? Bồ tát thế nào chẳng bỏ nghe pháp đều có thể lãnh thọ chánh giáo của chư Phật? Bồ tát thế nào chẳng bỏ trí quang vào khắp chỗ sở hành của tam thế trí?

Thiện Trụ Tỳ kheo bảo Thiện Tài rằng:

Lành thay! Lành Thay! Nầy thiện nam tử! Ngươi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề, nay lại phát tâm cầu hỏi Phật pháp, cầu hỏi pháp Nhứt thiết trí, Tự nhiên trí.

Nầy thiện nam tử! Ta đã thành tựu môn giải thoát vô ngại. Hoặc đi, hoặc đứng, hoặc đến, hoặc lui, tùy thuận tư duy tu tập quán sát, liền được trí huệ quang minh tên là Cứu cánh vô ngại. Vì được trí huệ quang minh nầy nên biết tâm hành của tất cả chúng sanh không chướng, không ngại. Biết sự chết và sanh của tất cả chúng sanh. Biết đời trước của tất cả chúng sanh. Biết những sự trong kiếp vị lai của tất cả chúng sanh. Biết những sự trong đời hiện tại của tất cả chúng sanh. Biết ngôn ngữ âm thanh nhiều loại sai biệt của tất cả chúng sanh. Biết những nghi vấn của tất cả chúng sanh. Biết căn tánh của tất cả chúng sanh. Tùy theo lúc tất cả chúng sanh nên được giáo hóa đều có thể qua đến nơi họ ở. Biết tất cả sát na, la bà, mâu hô lật đa, giờ khắc ngày đêm. Biết thứ đệ lưu chuyển trong biển tam thế. Tất cả những sự thấy biết như vậy đều không chướng không ngại. Cũng có thể đem thân mình qua đến tất cả cõi Phật mười phương không chướng ngại. Tại sao vậy? Vì được sức thần thông vô trụ vô tác.

Nầy thiện nam tử! Vì ta được sức thần thông
nầy nên ở giữa hư không, hoặc đi, hoặc đứng, hoặc ngồi, hoặc nằm, hoặc ẩn, hoặc hiển, hoặc hiện một thân, hoặc hiện nhiều thân, đi xuyên qua tường vách như đi nơi trống không. Ở trên hư không ngồi kiết già qua lại tự tại như chim bay. Vào trong đất như xuống nước, đi trên nước như trên đất, khắp thân trên dưới đều phát lửa ngọn như đống lửa lớn. Hoặc có lúc chấn động tất cả đại địa. Hoặc có lúc lấy tay rờ rẫm mặt nhựt mặt nguyệt. Hoặc hiện thân mình cao đến Phạm cung. Hoặc hiện mây hương đốt. Hoặc hiện mây bửu diệm. Hoặc hiện mây biến hóa. Hoặc hiện mây quang võng. Thảy đều rộng lớn đầy khắp hư không mười phương.

Hoặc trong một niệm qua phương đông một thế giới, hai thế giới, trăm thế giới, ngàn thế giới, trăm ngàn thế giới, nhẫn đến qua vô lượng thế giới, bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới. Hoặc qua Diêm Phù Đề vi trần số thế giới. Hoặc qua bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số thế giới. Ta ở trước chư Phật Thế Tôn trong tất cả quốc độ đó mà nghe thuyết pháp.

Ở chỗ mỗi đức Phật, hiện vô lượng Phật sát vi trần số thân sai khác. Mỗi mỗi thân rưới vô lượng Phật sát vi trần số mây đồ cúng dường. Những là mây tất cả hoa, mây tất cả hương, mây tất cả tràng hoa, mây tất cả hương bột, mây tất cả hương thoa, mây tất cả lọng, mây tất cả y phục, mây tất cả tràng, mây tất cả phan, mây tất cả trướng. Ðem tất cả thân vân cúng dường lên chư Phật.

Mỗi đức Như Lai có bao nhiêu lời dạy bảo ta đều thọ trì cả. Mỗi quốc độ có bao nhiêu sự trang nghiêm, ta đều nhớ rõ cả. Tất cả chín phương kia cũng đều như phương đông. Bao nhiêu chúng sanh trong tất cả thế giới như vậy, nếu được thấy thân của ta, thì đều quyết định được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Tất cả chúng sanh trong những thế giới đó, ta đều thấy rõ tùy theo sự lớn nhỏ thắng liệt khổ vui của họ mà thị hiện đồng thân hình với họ để giáo hóa cho họ được thành tựu. Nếu có chúng sanh nào thân cận ta, thì ta làm cho họ an trụ nơi pháp môn như đây.

Nầy thiện nam tử! Ta chỉ biết pháp môn Vô ngại giải thoát mau chóng cúng dường khắp chư Phật thành tựu khắp chúng sanh nầy. Như chư Bồ tát trì giới đại bi, giới ba la mật, giới Đại thừa, giới tương ưng với Bồ tát đạo, giới vô chướng ngại, giới chẳng thối đọa, giới chẳng bỏ tâm Bồ đề, giới thường dùng Phật pháp làm cảnh sở duyên, giới thường để ý nơi Nhứt thiết trí, giới như hư không, giới không y tựa tất cả thế gian, giới không mất, giới không tổn, giới không khuyết, giới không tạp, giới không trược, giới không hối, giới thanh tịnh, giới ly trần, giới ly cấu… Những công đức như vậy, ta đâu có thể biết và nói được hết.

Nầy thiện nam tử! Từ đây qua phương nam có một nước tên là Ðạt Lý Tỷ Trà, có thành tên là Tự Tại, trong đó có một người tên là Di Già. Ngươi nên đến đó hỏi Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, trụ Bồ tát đạo?

Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân Thiện Trụ Tỳ kheo, hữu nhiễu chiêm ngưỡng lui ra đi về phương nam.

*Lúc đó, Thiện Tài đồng tử nhứt tâm chánh niệm pháp môn Pháp quang minh tin sâu xu nhập. Chuyên niệm Phật, chẳng dứt ngôi Tam Bảo. Khen tánh ly dục. Nhớ thiện tri thức. Chiếu khắp tam thế. Nhớ những đại nguyện khắp cứu chúng sanh. Chẳng chấp hữu vi. Rốt ráo tư duy tự tánh của các pháp. Ðều có thể nghiêm tịnh tất cả thế giới. Nơi chúng hội đạo tràng của tất cả chư Phật, lòng không chấp trước.

Thiện Tài đồng tử đi lần qua phương nam đến thành Tự Tại tìm Di Già, thấy người nầy đang ngồi trên pháp tòa sư tử nơi chợ giảng thuyết pháp môn Luân tự trang nghiêm. Có mười ngàn người vây quanh nghe pháp.

Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân Di Già, hữu nhiễu vô lượng vòng, chắp tay cung kính bạch rằng:

Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề, mà tôi chưa biết Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, tu Bồ tát đạo? Thế nào lưu chuyển trong các loài mà chẳng quên mất tâm Bồ đề? Thế nào được ý bình đẳng kiên cố bất động? Thế nào được tâm thanh tịnh không gì trở ngại được? Thế nào phát sanh sức đại bi hằng không mỏi nhọc? Thế nào nhập đà la ni khắp được thanh tịnh? Thế nào phát sanh trí huệ quảng đại quang minh nơi tất cả pháp lìa những ám chướng? Thế nào đủ sức vô ngại giải biện tài quyết rõ tất cả nghĩa tạng thậm thâm? Thế nào được sức chánh niệm ghi nhớ thọ trì tất cả pháp luân sai biệt? Thế nào được sức tịnh đạo, nơi tất cả loài khắp diễn thuyết các pháp? Thế nào được sức trí tuệ nơi tất cả pháp đều có thể quyết định phân biệt nghĩa đó?

Di Già bảo Thiện Tài rằng:

Ngươi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề rồi ư?

Vâng, tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề.

Di Già liền vội vàng rời tòa sư tử mọp lạy
Thiện Tài. Rồi lại rải bông kim ngân, bửu châu vô giá, cùng với bột mịn chiên đàn, vô lượng thứ y trùm trên mình Thiện Tài. Di Già lại rải vô lượng những thứ hương hoa, các thứ phẩm vật để cúng dường. Sau đó mới đứng dậy khen rằng:

Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử có thể phát tâm Vô thượng Bồ đề.

Nầy thiện nam tử! Nếu có ai phát được tâm Vô thượng Bồ đề thì là chẳng dứt mất tất cả Phật chủng. Thì là nghiêm tịnh tất cả Phật độ. Thì là thành thục tất cả chúng sanh. Thì là thấu rõ tất cả pháp tánh. Thì là tỏ ngộ tất cả nghiệp chủng. Thì là viên mãn tất cả các hạnh. Thì là chẳng dứt tất cả đại nguyện. Thì là thiệt hiểu chủng tánh ly tham. Thì có thể thấy rõ tam thế sai biệt. Thì làm cho tín giải trọn được kiên cố. Thì được tất cả Như Lai nhiếp trì. Thì được tất cả chư Phật ức niệm. Thì bình đẳng với tất cả Bồ tát. Thì được tất cả Hiền Thánh khen mừng. Thì được tất cả Phạm vương kính lễ. Thì được tất cả Thiên vương cúng dường. Thì được tất cả Dạ xoa thủ hộ. Thì được tất cả La sát hầu hạ. Thì được tất cả Long vương nghinh tiếp. Thì được tất cả Khẩn na la vương ca ngâm khen ngợi. Thì được tất cả các Thế Chủ khen ngợi mừng vui. Thì làm cho tất cả chúng sanh giới đều được an ổn. Những là làm cho họ bỏ ác thú. Làm cho họ ra khỏi chỗ nạn. Làm cho họ dứt tất cả cội gốc nghèo cùng. Làm cho họ sanh tất cả trời người vui sướng. Làm cho họ thân cận thiện tri thức. Làm cho họ được nghe và thọ trì pháp quảng đại. Làm cho họ sanh tâm Bồ đề. Làm cho họ tịnh tâm Bồ đề. Làm cho họ rõ Bồ tát đạo. Làm cho họ nhập Bồ tát trí. Làm cho họ trụ Bồ tát địa.

Nầy thiện nam tử! Phải biết chỗ làm của Bồ tát rất khó, khó ra, khó gặp. Người được thấy Bồ tát lại còn khó có hơn. Vì Bồ tát là chỗ tất cả chúng nương nhờ mà được sanh trưởng thành tựu. Là chỗ cứu tế của tất cả chúng sanh, vì Bồ tát cứu họ khỏi khổ nạn. Là chỗ y tựa của tất cả chúng sanh, vì thủ hộ thế gian. Là người cứu hộ tất cả chúng sanh, vì làm cho họ khỏi sự kinh sợ.

Bồ tát như phong luân, vì gìn giữ các thế gian chẳng cho đọa lạc ác đạo. Bồ tát như đại địa vì tăng trưởng thiện căn cho chúng sanh. Bồ tát như đại hải, vì phước đức sung mãn vô tận. Bồ tát như mặt trời, vì trí huệ quang minh chiếu khắp nơi. Bồ tát như núi Tu Di, vì thiện căn cao xuất. Bồ tát như minh nguyệt, vì trí quang xuất hiện. Bồ tát như mãnh tướng, vì xô dẹp ma quân. Bồ tát như quân chủ, vì được tự tại trong thành trì Phật pháp. Bồ tát như ngọn lửa mạnh, vì cháy sạch tâm ngã ái của chúng sanh. Bồ tát như mây lớn, vì mưa vô lượng diệu pháp. Bồ tát như mưa phải thời, vì làm thêm lớn mầm tất cả tín căn. Bồ tát như thuyền sư, vì chỉ dẫn bờ mé pháp hải. Bồ tát như cầu đò, vì làm cho chúng sanh qua khỏi biển sanh tử.

Di Già tán thán Thiện Tài như vậy, làm cho chư Bồ tát hoan hỷ rồi, từ trên mặt phóng ra những ánh sáng chiếu khắp Đại thiên thế giới. Chúng sanh trong cõi Đại thiên gặp ánh sáng nầy, từ Long Thần, nhẫn đến Phạm Thiên đều đến chỗ Di Già.

Di Già Ðại Sĩ liền dùng phương tiện vì họ mà khai thị giải thích pháp môn Luân tự phẩm trang nghiêm. Ðại chúng nghe pháp xong, đều được chẳng thối chuyển nơi Vô thượng Bồ đề.

Lúc Bấy giờ, Di Già trở lại lên bổn tòa bảo Thiện Tài rằng:

Thiện nam tử! Ta đã được Diệu âm đà la ni. Có thể phân biệt biết ngữ ngôn của tất cả chúng sanh, chư Thiên, Long, Bát bộ, trong cõi Đại thiên. Cũng như cõi Đại thiên nầy, vô số thế giới nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới khắp mười phương đều biết rõ ngữ ngôn cả.

Nầy thiện nam tử! Ta chỉ biết pháp môn Bồ tát Diệu âm đà la ni quang minh nầy. Như chư đại Bồ tát có thể vào khắp biển những tư tưởng của tất cả chúng sanh, biển những sự thi thiết, biển những danh hiệu, biển những ngữ ngôn của tất cả chúng sanh. Có thể vào khắp diễn thuyết biển tất cả pháp cú thâm mật. Diễn thuyết biển tất cả pháp cú cứu cánh. Diễn thuyết biển Pháp cú trong tất cả sở duyên có tất cả tam thế sở duyên. Diễn thuyết biển thượng Pháp cú. Diễn thuyết biển thượng thượng Pháp cú. Diễn thuyết biển Pháp cú sai biệt. Diễn thuyết biển Pháp cú tất cả sai biệt. Có thể vào khắp tất cả thế gian chú thuật hải. Tất cả âm thanh trang nghiêm luân. Tất cả sai biệt tự luân tế… Những công đức như vậy, nay ta làm sao biết hết được, nói hết được.

Nầy thiện nam tử! Từ đây qua phương nam có một tụ lạc tên là Trụ Lâm. Nơi đó có một trưởng giả tên là Giải Thoát. Ngươi đến đó hỏi Bồ tát thế nào tu Bồ tát hạnh? Bồ tát thế nào thành Bồ tát hạnh? Bồ tát thế nào tích tập Bồ tát hạnh? Bồ tát thế nào tư duy Bồ tát hạnh?

Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử nhờ thiện tri thức nên đối với pháp Nhứt thiết trí rất tôn trọng. Trồng sâu gốc tịnh tín. Thêm nhiều lợi ích. Thiện Tài đảnh lễ chân Di Già, rơi lệ buồn khóc nhiễu vô lượng vòng, luyến mộ chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.

Thiện Tài đồng tử tư duy pháp môn Bồ tát vô ngại giải đà la ni quang minh trang nghiêm. Thâm nhập pháp môn Bồ tát ngữ ngôn hải. Nghĩ nhớ pháp môn Vi tế phương tiện Bồ tát biết tất cả chúng sanh. Quán sát pháp môn Bồ tát thanh tịnh tâm. Thành tựu pháp môn Bồ tát thiện căn quang minh. Tịnh trị pháp môn Bồ tát giáo hóa chúng sanh. Minh lợi trí môn Bồ tát nhiếp chúng sanh. Kiên cố pháp môn Bồ tát quảng đại chí nguyện. Nhiệm trì pháp môn Bồ tát thù thắng chí nguyện. Tịnh trị pháp môn Bồ tát tín giải. Tư duy pháp môn Bồ tát vô lượng thiện tâm. Thệ nguyện kiên cố, tâm không mỏi nhàm. Dùng những mão giáp để tự trang nghiêm. Thâm tâm tinh tấn chẳng thối chuyển, đủ đức tin bất hoại. Tâm kiên cố như kim cang và như na la diên không gì phá hoại được. Giữ gìn tất cả lời dạy của thiện tri thức. Nơi các cảnh giới được trí bất hoại. Phổ môn thanh tịnh việc làm vô ngại. Trí quang viên mãn chiếu khắp tất cả. Ðầy đủ tổng trì quang minh của các địa. Biết rõ pháp giới nhiều loại sai biệt, không y, không trụ, bình đẳng không hai, tự tánh thanh tịnh, mà khắp trang nghiêm. Nơi các công hạnh đều được rốt ráo. Trí huệ thanh tịnh rời lìa chấp trước. Biết pháp sai biệt mười phương trí không chướng ngại. Qua khắp xứ sai biệt ở mười phương thân không mỏi lười. Biết rõ những nghiệp sai biệt ở mười phương. Ðều hiện thấy Phật sai biệt ở mười phương. Ðều thâm nhập thời gian sai biệt ở mười phương. Diệu pháp thanh tịnh sung mãn nơi tâm. Phổ trí tam muội chiếu rõ nơi tâm. Tâm hằng vào khắp cảnh giới bình đẳng. Ðược trí huệ của Như Lai chiếu đến. Dòng Nhứt thiết trí tương tục chẳng dứt. Hoặc thân hoặc tâm đều chẳng rời Phật pháp. Tất cả chư Phật thần lực gia hộ. Tất cả Như Lai quang minh chiếu đến, thành tựu đại nguyện. Nguyện thân cùng khắp tất cả cõi nước, tất cả pháp giới vào khắp thân mình.

Thiện Tài đồng tử đi lần qua phương nam, trải qua mười hai năm, đến thành Trụ Lâm tìm Giải Thoát trưởng giả. Lúc đã gặp được, Thiện Tài đảnh lễ chân Trưởng giả chắp tay cung kính thưa rằng:

Bạch đức Thánh! Nay tôi được hội ngộ bực thiện tri thức. Tôi đã được lợi ích rộng lớn. Tại sao vậy? Vì với các bực thiện tri thức, khó được thấy, khó được nghe, khó được xuất hiện, khó được phụng sự, khó được gần gũi, khó được tiếp rước, khó được gặp gỡ, khó được ở chung, khó làm cho vui đẹp, khó được theo dõi. Mà nay tôi được gặp gỡ, nên tôi được lợi lành rộng lớn.

Bạch đức Thánh! Tôi đã trước phát tâm Vô thượng Bồ đề, vì muốn thờ tất cả chư Phật, vì muốn gặp tất cả chư Phật, vì muốn thấy tất cả chư Phật, vì muốn nhìn tất cả chư Phật, vì muốn biết tất cả chư Phật, vì muốn chứng tất cả chư Phật bình đẳng, vì muốn phát tất cả chư Phật đại nguyện, vì muốn thành mãn tất cả chư Phật đại nguyện, vì muốn đầy đủ tất cả chư Phật trí quang, vì muốn thành những hạnh của tất cả chư Phật, vì muốn được thần thông của tất cả chư Phật, vì muốn đầy đủ trí lực của tất cả chư Phật, vì muốn được vô úy của tất cả chư Phật, vì muốn nghe pháp của tất cả chư Phật, vì muốn thọ pháp của tất cả chư Phật, vì muốn hiểu pháp của tất cả chư Phật, vì muốn hộ pháp của tất cả chư Phật, vì muốn đồng một thể với tất cả chúng Bồ tát, vì muốn đồng thiện căn với tất cả Bồ tát, vì muốn viên mãn ba la mật của tất cả Bồ tát, vì muốn thành tựu hạnh tu hành của tất cả Bồ tát, vì muốn xuất sanh thanh tịnh nguyện của tất cả Bồ tát, vì muốn được tạng oai thần của tất cả chư Phật Bồ tát, vì muốn được pháp tạng vô tận trí huệ đại quang minh của tất cả Bồ tát, vì muốn được tạng tam muội quảng đại của tất cả Bồ tát, vì muốn thành tựu tạng vô lượng vô số thần thông của tất cả Bồ tát, vì muốn dùng tạng đại bi giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh đều làm cho họ rốt ráo đến biên tế, vì muốn hiển hiện tạng thần biến, vì ở trong tất cả tạng tự tại đều dùng tự tâm được tự tại, vì muốn nhập trong thanh tịnh tạng nên dùng tất cả tướng mà trang nghiêm.

Bạch đức Thánh! Nay tôi đem tâm như vậy, ý như vậy, thích như vậy, muốn như vậy, trông mong như vậy, tư duy như vậy, tôn trọng như vậy, phương tiện như vậy, cứu cánh như vậy, khiêm hạ như vậy mà đến chỗ đức Thánh.

Tôi nghe đức Thánh có thể khéo dạy bảo chúng Bồ tát, có thể dùng phương tiện xiển minh chỗ sở đắc, chỉ cho đường sá, ban cho cầu đò, trao cho pháp môn, khiến trừ chướng mê đảo, nhổ mũi tên do dự, cắt lưới nghi hoặc, soi tâm rừng rậm, rửa tâm nhơ đục, khiến tâm trắng sạch, khiến tâm thanh tịnh, chánh tâm dua vạy, tuyệt tâm sanh tử, ngăn tâm bất thiện, mở tâm chấp trước.

Nơi chỗ chấp trước làm cho tâm giải thoát, ở chỗ nhiễm ái làm cho tâm động chuyển. Khiến họ mau nhập cảnh Nhứt thiết trí. Khiến họ mau đến thành vô thượng pháp. Khiến họ trụ đại bi. Khiến họ trụ đại từ. Khiến họ nhập Bồ tát hạnh. Khiến họ tu môn tam muội. Khiến họ được chứng nhập. Khiến họ quán pháp tánh. Khiến họ tăng trưởng lực. Khiến họ tu tập hạnh. Tâm họ bình đẳng khắp ở tất cả.

Cúi xin đức Thánh vì tôi tuyên nói Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, tu Bồ tát đạo. Theo chỗ tu tập mau được thanh tịnh, mau được minh liễu.

Lúc đó, Giải Thoát trưởng giả do sức thiện căn quá khứ, sức oai thần của Phật, do niệm lực của Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, mà nhập Bồ tát tam muội môn tên là Vô biên triền đà la ni nhiếp khắp tất cả cõi Phật.

Nhập tam muội nầy rồi được thân thanh tịnh. Ở trong thân mình hiển hiện mười phương, mỗi phương đều mười Phật sát vi trần số Phật và quốc độ, chúng hội đạo tràng các thứ quang minh, các sự trang nghiêm. Cũng hiện những thần thông biến hóa, tất cả đại nguyện, những pháp trợ đạo tu hành thuở xưa của chư Phật và những hạnh xuất ly thanh tịnh trang nghiêm. Cũng thấy chư Phật thành Ðẳng Chánh Giác chuyển diệu pháp luân giáo hóa chúng sanh. Tất cả những sự như vậy thảy đều hiển hiện trong phân thân không chướng ngại. Các thứ hình tướng, nhiều loại thứ đệ an trụ như cũ chẳng tạp loạn nhau.

Những là: các thứ quốc độ, các thứ chúng hội, các thứ đạo tràng, các thứ nghiêm sức. Trong đó chư Phật hiện những thần lực, lập những thừa đạo, bày những nguyện môn. Hoặc nơi một thế giới, ở cung Ðâu Suất mà làm Phật sự. Hoặc nơi một thế giới, ẩn cung Ðâu Suất mà làm Phật sự.

Như vậy, hoặc lại trụ thai, hoặc đản sanh, hoặc ở trong cung, hoặc xuất gia, hoặc đến đạo tràng, hoặc phá ma quân, hoặc chư Thiên Long cung kính vây quanh, hoặc các Thế Chủ khuyến thỉnh thuyết pháp, hoặc chuyển pháp luân, hoặc nhập Niết bàn, hoặc chia xá lợi, hoặc xây tháp miếu.

Chư Phật Như Lai đó ở các chúng hội, các thế gian, các loài, các chủng tộc, các dục lạc, các nghiệp hành, các ngữ ngôn, các căn tánh, các phiền não, tùy miên, tập khí, trong các chúng sanh. Hoặc ở vi tế đạo tràng, hoặc ở quảng đại đạo tràng, hoặc ở đạo tràng lượng một do tuần, hoặc ở đạo tràng lượng mười do tuần, hoặc ở đạo tràng lượng bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát cực vi trần số do tuần. Dùng các thứ thần thông, các thứ ngôn từ, các thứ âm thanh, các thứ pháp môn, các thứ tổng trì môn, các thứ biện tài môn. Dùng các thứ Thánh đế, các thứ vô úy đại sư tử hống mà diễn thuyết những thiện căn, những ức niệm của các chúng sanh. Thọ ký cho Bồ tát. Nói những Phật pháp. Chư Phật Như Lai có bao nhiêu ngôn thuyết, Thiện Tài đồng tử đều nghe thọ được cả. Cũng thấy bất tư nghì tam muội thần biến của chư Phật và chư Bồ tát.

Lúc bấy giờ, Giải Thoát trưởng giả xuất tam muội, bảo Thiện Tài rằng:

Thiện nam tử! Ta đã nhập xuất môn Vô ngại trang nghiêm giải thoát của Như Lai.

Thiện nam tử! Lúc ta nhập xuất môn giải thoát nầy, liền thấy thế giới Diêm Phù Ðàn Kim Quang Minh ở phương đông, đức Long Tự Tại Vương Như Lai Ðẳng Chánh Giác, chúng hội đạo tràng vây quanh. Tỳ lô Giá Na Tạng Bồ tát làm thượng thủ.

Lại thấy thế giới Tốc Tật Lực ở phương nam, Phổ Hương Như Lai Ðẳng Chánh Giác và đạo tràng chúng hội vây quanh. Tâm Vương Bồ tát làm thượng thủ.

Lại thấy thế giới Hương Quang ở phương tây, Tu Di Ðăng Vương Như Lai Ðẳng Chánh Giác, đạo tràng chúng hội vây quanh. Vô Ngại Tâm Bồ tát làm thượng thủ.

Lại thấy thế giới Ca Sa Tràng ở phương bắc Bất Khả Hoại Kim Cang Như Lai Ðẳng Chánh Giác, đạo tràng chúng hội vây quanh. Kim Cang Dũng Mãnh Bồ tát làm thượng thủ.

Lại thấy phương đông bắc, thế giới Nhứt Thiết Thượng Diệu Bửu, đức Vô Sở Ðắc Cảnh Giới Nhãn Như Lai Ðẳng Chánh Giác, đạo tràng chúng hội vây quanh. Vô Sở Ðắc Thiện Biến Hóa Bồ tát làm thượng thủ.

Lại thấy phương đông nam, thế giới Hương Diệm Quang Âm, đức Hương Ðăng Như Lai Ðẳng Chánh Giác, đạo tràng chúng hội vây quanh. Kim Cang Diệm Huệ Bồ tát làm thượng thủ.

Lại thấy phương tây nam, thế giới Trí Huệ Nhựt Phổ Quang Minh, đức Pháp Giới Luân Tràng Như Lai Ðẳng Chánh Giác, đạo tràng chúng hội vây quanh. Hiện Nhứt Thiết Biến Hóa Tràng Bồ tát làm thượng thủ.

Lại thấy phương tây bắc, thế giới Phổ Thanh Tịnh, đức Nhứt Thiết Phật Bửu Cao Thắng Tràng Như Lai Ðẳng Chánh Giác, đạo tràng chúng hội vây quanh. Pháp Tràng Vương Bồ tát làm thượng thủ.

Lại thấy thượng phương, thế giới Phật Thứ Ðệ Xuất Hiện Vô Tận, đức Vô Biên Trí Huệ Quang Viên Mãn Tràng Như Lai Ðẳng Chánh Giác, đạo tràng chúng hội vây quanh. Pháp Giới Môn Tràng Vương Bồ tát làm thượng thủ.

Lại thấy hạ phương thế giới Phật Quang Minh, đức Vô Ngại Trí Tràng Như Lai Ðẳng Chánh Giác, đạo tràng chúng hội vây quanh. Nhứt Thiết Thế Gian Sát Tràng Vương Bồ tát làm thượng thủ.

Thiện nam tử! Ta thấy mười phương như vậy. Mỗi phương đều mười Phật sát vi trần số Như Lai. Chư Như Lai chẳng đến đây, ta cũng chẳng qua đó. Nếu ta muốn thấy thế giới An Lạc, đức A Di Ðà Như Lai, thì tùy ý liền thấy. Nếu ta muốn thấy Chiên Ðàn thế giới, Kim Cang Quang Minh Như Lai; Diệu Hương thế giới, Bửu Quang Minh Như Lai; Liên Hoa thế giới, Bửu Liên Hoa Quang Minh Như Lai; Diệu Kim thế giới, Tịch Tịnh Quang Như Lai; Diệu Hỷ thế giới, Bất Ðộng Như Lai; Thiện Trụ thế giới, Sử Tử Như Lai; Cảnh Quang Minh thế giới, Nguyệt Giác Như Lai; Bửu Sư Tử Trang Nghiêm thế giới, Tỳ Lô Giá Na Như Lai; tất cả chư Như Lai như vậy đều tùy ý liền thấy. Nhưng chư Như Lai chẳng đến đây, ta cũng không qua đó.

Biết tất cả chư Phật cùng tâm của ta đều như mộng. Biết tất cả chư Phật như ảnh tượng, còn tâm mình như nước. Biết tất cả sắc tướng của chư Phật và tâm mình đều như huyễn. Biết tất cả Phật và tâm mình thảy đều như vang. Ta biết như vậy, ức niệm như vậy. Chư Phật được thấy đều do tự tâm.

Thiện nam tử! Phải biết Bồ tát tu những Phật pháp, tịnh những Phật độ, tích tập diệu hạnh, điều phục chúng sanh, phát đại thệ nguyện, nhập Nhứt thiết trí, tự tại du hý bất tư nghì môn giải thoát, được Phật Bồ đề, hiện đại thần thông, qua khắp tất cả mười phương pháp giới, dùng vi tế trí nhập khắp các kiếp, tất cả như vậy đều do tự tâm.

Thiện nam tử! Do đây nên phải dùng thiện pháp phò trợ tự tâm. Phải dùng pháp thủy thấm nhuần tự tâm. Phải ở cảnh giới trị sạch tự tâm. Phải dùng tinh tấn kiên cố tự tâm. Phải dùng nhẫn nhục san bằng tự tâm. Phải dùng trí chứng rửa sạch tự tâm. Phải dùng trí huệ minh lợi tự tâm. Phải dùng Phật tự tại khai phát tự tâm. Phải dùng Phật bình đẳng quảng đại tự tâm. Phải dùng Phật thập lực chiếu xét tự tâm.

Thiện nam tử! Ta chỉ nhập xuất được môn giải thoát Như Lai vô ngại trang nghiêm nầy. Còn như chư đại Bồ tát được vô ngại trí, trụ vô ngại hạnh, được tam muội thường thấy tất cả Phật, được tam muội chẳng trụ Niết bàn tế, rõ thấu tam muội phổ môn cảnh giới. Với những pháp tam thế thảy đều bình đẳng. Hay khéo phân thân khắp tất cả cõi. An trụ nơi cảnh giới bình đẳng của chư Phật. Cảnh giới mười phương đều hiện tiền. Trí huệ quán sát đều thấy biết rõ ràng tất cả. Ở trong thân mình đều hiện tất cả thế giới thành hoại, nhưng đối với thân mình và các thế giới không có tưởng nghĩ là hai. Những diệu hạnh như vậy, làm sao ta biết hết được, nói hết được.

Nầy thiện nam tử! Từ đây qua phương nam đến bờ Diêm Phù Ðề, có một nước tên là Ma Lợi Già La. Nước đó có Tỳ kheo tên là Hải Tràng. Ngươi đến đó hỏi Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, tu Bồ tát đạo?

Lúc đó, Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân Giải Thoát trưởng giả, hữu nhiễu quán sát xưng dương ca ngợi, tư duy chiêm ngưỡng, buồn khóc rơi lệ, nhứt tâm ghi nhớ y tựa thiện tri thức, thờ thiện tri thức, kính thiện tri thức, do thiện tri thức được thấy Nhứt thiết trí. Với thiện tri thức chẳng có lòng chống trái, không dua dối. Với thiện trí thức tâm thường tùy thuận. Nơi thiện tri thức tưởng là từ mẫu, vì bỏ rời tất cả pháp vô ích. Nơi thiện tri thức tưởng là từ phụ, vì xuất sanh tất cả pháp lành. Tư duy rồi, từ tạ mà đi.

Thiện Tài đồng tử nhứt tâm chánh niệm lời dạy của Giải Thoát trưởng giả, quán sát lời dạy của trưởng giả. Ghi nhớ môn bất tư nghì Bồ tát giải thoát của trưởng giả. Tư duy bất tư nghì Bồ tát trí quang minh của trưởng giả. Thâm nhập bất tư nghì pháp giới môn của trưởng giả. Xu hướng bất tư nghì Bồ tát phổ nhập môn của trưởng giả. Thấy rõ bất tư nghì Như Lai thần biến của trưởng giả. Hiểu rõ bất tư nghì phổ nhập Phật độ của trưởng giả. Phân biệt bất tư nghì Phật lực trang nghiêm của trưởng giả. Suy gẫm bất tư nghì Bồ tát tam muội cảnh giới phần vị của trưởng giả. Rõ thấu bất tư nghì thế giới sai biệt cứu cánh vô ngại của trưởng giả. Tu hành bất tư nghì Bồ tát kiên cố thâm tâm của trưởng giả. Phát khởi bất tư nghì Bồ tát đại nguyện nghiệp của trưởng giả.

Thiện Tài đồng tử đi lần qua phương nam đến bờ Diêm Phù Ðề, nước Ma Lợi, tìm Hải Tràng Tỳ kheo. Bèn thấy Hải Tràng Tỳ kheo ngồi kiết già ở bên chỗ đi kinh hành, đang nhập tam muội, bặt hơi thở, lìa tư giác, thân tâm bất động. Từ dưới chân của Tỳ kheo ấy hiện ra vô số muôn ngàn ức trưởng giả, cư sĩ, Bà la môn. Ðại chúng nầy đều dùng nhiều đồ trang nghiêm để nghiêm sức thân mình. Tất cả đều đội bửu quan, đeo minh châu, qua khắp tất cả thế giới mười phương mưa tất cả châu bửu, tất cả chuỗi ngọc, tất cả y phục, tất cả đồ uống ăn thượng vị đúng pháp, tất cả hoa, tất cả tràng hoa, tất cả hương, tất cả hương thoa, tất cả đồ cần thiết theo sở thích. Ở tất cả chỗ cứu nhiếp những chúng sanh nghèo cùng, an ủi những chúng sanh khổ não, đều làm cho hoan hỷ. Tâm ý thanh tịnh. Thành tựu đạo Vô thượng Bồ dề.

Từ hai gối của Hải Tràng Tỳ kheo xuất hiện trăm ngàn ức Sát đế lợi, Bà la môn. Ðại chúng nầy đều thông huệ, nhiều sắc tướng, nhiều hình mạo, nhiều y phục thượng diệu trang nghiêm, cùng khắp tất cả thế giới mười phương, dùng ái ngữ và đồng sự nhiếp các chúng sanh. Những là làm cho người nghèo được đầy đủ, người bịnh được lành, người nguy được an, người kinh sợ được y tựa, người ưu sầu được sung sướng. Lại dùng phương tiện để khuyến dụ họ, làm cho họ đều bỏ ác làm lành.

Từ khoảng eo lưng của Hải Tràng Tỳ kheo xuất hiện vô lượng vô số tiên nhân: Hoặc mặc y phục bằng cỏ, bằng vỏ cây. Ðều cầm bình rửa, oai nghi tịch tịnh, du hành thế giới mười phương. Ở trên hư không, dùng diệu âm ca ngợi Như Lai. Diễn thuyết các pháp: Hoặc diễn thuyết đạo thanh tịnh Phạm hạnh, làm cho họ tu tập điều phục các căn tánh. Hoặc nói các pháp đều không tự tánh, cho họ quán sát phát sanh trí huệ. Hoặc nói pháp tắc ngôn luận thế gian. Hoặc lại khai thị Nhứt thiết trí phương tiện xuất yếu, làm cho họ theo thứ đệ đều tu tập hạnh nghiệp của riêng mình.

Từ hai bên hông của Hải Tràng Tỳ kheo xuất hiện bất tư nghì Long, bất tư nghì Long nữ, thị hiện bất tư nghì thần biến của chư Long. Những là mưa những mây hương thơm, mây hoa, mây tràng hoa, mây bửu cái, mây bửu phan, mây diệu bửu trang nghiêm, mây như ý bửu, mây bửu anh lạc, mây bửu tọa, mây bửu cung điện, mây bửu liên hoa, mây bửu quan, mây Thiên thân, mây thể nữ, tất cả đều bất tư nghì khắp hư không để trang nghiêm. Sung mãn chư Phật đạo tràng tất cả thế giới mười phương để cúng dường, làm cho các chúng sanh đều hoan hỷ.

Từ tướng chữ “Vạn” () trước ngực xuất hiện vô số trăm ngàn ức A tu la vương, thảy đều thị hiện bất tư nghì huyễn lực tự tại, làm chấn động cả trăm thế giới. Tất cả nước biển tự nhiên sôi trào. Tất cả Sơn Vương tự nhiên xung kích. Chư Thiên cung điện đều lay động. Quang minh của chư ma đều bị che khuất. Chúng ma quân đều bị xô dẹp. Khiến khắp chúng sanh bỏ tâm kiêu mạn, trừ tâm sân hại, phá núi phiền não, dứt các pháp ác, thêm lớn pháp vô tránh, hằng hòa lành nhau. Lại dùng huyễn lực khai ngộ chúng sanh, làm cho họ diệt tội ác, sợ sanh tử, khỏi các loài, lìa nhiễm trước. Khiến họ an trụ tâm Vô thượng Bồ đề, khiến họ tu tất cả hạnh Bồ tát, khiến trụ các môn ba la mật, khiến nhập tất cả bực Bồ tát, khiến quán sát tất cả pháp môn vi diệu, khiến biết tất cả phương tiện của chư Phật. Những việc làm trên đây cùng khắp pháp giới.

Từ trên lưng của Hải Tràng Tỳ kheo, vì người đáng dùng Nhị thừa để độ, xuất hiện vô số trăm ngàn ức Thanh văn và Ðộc giác. Vì người chấp ngã mà nói pháp vô ngã. Vì người chấp thường mà nói tất cả hành pháp đều vô thường. Vì người tham mà nói bất tịnh quán. Vì người sân mà nói từ tâm quán. Vì người si mà nói duyên khởi quán. Vì người đẳng phần phiền não mà nói cảnh giới pháp cùng trí huệ tương ưng. Vì người mến thích cảnh giới mà nói pháp vô sở hữu. Vì người mến thích chỗ tịch tịnh mà nói pháp phát thệ nguyện lớn khắp lợi ích tất cả chúng sanh. Những việc làm như vậy cùng khắp pháp giới.

Từ hai vai của Hải Tràng Tỳ kheo xuất hiện vô số trăm ngàn ức Dạ xoa vương, La sát vương: những hình mạo, những sắc tướng, hoặc cao, hoặc thấp đều đáng kinh sợ. Vô lượng quyến thuộc vây quanh. Chư vương nầy thủ hộ tất cả chúng sanh làm lành và các Hiền Thánh chúng hội Bồ tát, người hướng chánh trụ và người chánh trụ. Hoặc hiện làm Thần chấp kim cang thủ hộ chư Phật và chỗ chư Phật ngự. Hoặc khắp thủ hộ thế gian làm cho người hãi sợ được an ổn. Người tật bịnh được lành. Người khổ não được hết khổ. Người có lỗi lầm thì ăn năn. Người bị tai nạn thì khỏi nạn. Lợi ích tất cả chúng sanh như vậy đều làm cho họ bỏ sanh tử luân mà chuyển chánh pháp luân.

Từ nơi bụng của Hải Tràng Tỳ kheo xuất hiện
trăm ngàn ức Khẩn na la vương, đều có vô số Khẩn na la nữ trước sau vây quanh. Lại xuất hiện vô số Càn thát bà vương, đều có vô số Càn thát bà nữ trước sau vây quanh. Ðều trỗi vô số trăm ngàn Thiên nhạc ca ngâm tán thán những pháp bửu tánh. Ca ngâm tán thán chư Phật bửu. Ca ngâm tán thán phát Bồ đề tâm. Ca ngâm tán thán tu Bồ tát hạnh. Ca ngâm tán thán môn thành Đẳng Chánh Giác của tất cả chư Phật. Ca ngâm tán thán môn chuyển pháp luân của tất cả chư Phật. Ca ngâm tán thán môn hiện thần biến của tất cả chư Phật. Khai thị diễn thuyết môn nhập Niết bàn của tất cả chư Phật. Khai thị diễn thuyết môn thủ hộ giáo pháp của tất cả chư Phật. Khai thị diễn thuyết môn làm cho tất cả chúng sanh đều hoan hỷ. Khai thị diễn thuyết môn nghiêm tịnh tất cả Phật độ. Khai thị diễn thuyết môn hiển bày tất cả pháp vi diệu. Khai thị diễn thuyết môn bỏ lìa tất cả chướng ngại. Khai thị diễn thuyết môn phát sanh tất cả thiện căn. Tất cả như vậy đều cùng khắp thế giới mười phương.

Từ trên mặt của Hải Tràng Tỳ kheo xuất hiện vô số trăm ngàn ức Chuyển Luân Thánh vương, thất bửu đầy đủ, bốn đội binh vây quanh, phóng ánh sáng đại xả, mưa vô lượng bửu làm cho người nghèo thiếu đều được no đủ và làm cho họ bỏ hẳn sự trộm cắp. Thể nữ xinh đẹp vô số trăm ngàn đều đem xả thí không tiếc, làm cho họ bỏ hẳn sự tà dâm; làm cho họ sanh lòng từ chẳng giết hại; làm cho họ rốt ráo thường nói lời chơn thiệt, chẳng dối phỉnh, chẳng luận đàm vô ích; làm cho họ nói lời hòa giải vui thuận chẳng làm sự ly gián; làm cho họ nói lời dịu dàng không có thô ác; làm cho họ thường diễn thuyết những nghĩa thậm thâm quyết định minh liễu, chẳng nói lời vô nghĩa trau chuốt. Vì họ mà nói thiểu dục cho họ trừ tham ái lòng không nhơ bợn. Vì họ mà nói đại bi cho họ trừ sân hận tâm ý được thanh tịnh. Vì họ mà nói thiệt nghĩa khiến họ quán sát tất cả pháp thâm nhập nhơn duyên, khéo rõ đế lý, nhổ gai tà kiến, phá núi nghi hoặc, trừ diệt tất cả chướng ngại. Những việc làm như vậy đều đầy khắp pháp giới.

Từ hai mắt của Hải Tràng Tỳ kheo xuất hiện vô số trăm ngàn ức nhựt luân chiếu khắp tất cả những đại địa ngục và những ác thú, đều làm cho họ khỏi khổ. Lại chiếu chặng giữa tất cả thế giới để trừ tăm tối. Lại chiếu chúng sanh mười phương đều làm cho họ bỏ lìa ngu si ế chướng. Nơi quốc độ cấu trược phóng thanh tịnh quang. Cõi nước bạch ngân phóng ánh sáng màu huỳnh kim. Nơi cõi nước huỳnh kim phóng ánh sáng màu bạch ngân. Nơi cõi nước lưu ly phóng ánh sáng màu pha lê. Cõi nước pha lê phóng ánh sáng màu lưu ly. Cõi nước xa cừ phóng ánh sáng màu mã não. Cõi nước mã não phóng ánh sáng màu xa cừ. Cõi nước đế thanh phóng ánh sáng màu nhựt tạng ma ni vương. Cõi nước nhựt tạng ma ni vương phóng ánh sáng màu đế thanh. Cõi nước xích chơn châu phóng ánh sáng nguyệt quang võng tạng ma ni vương. Cõi nước nguyệt quang võng tạng ma ni vương phóng ánh sáng màu xích chơn châu. Cõi nước một thứ bửu làm thành phóng ánh sáng màu nhiều thứ báu. Cõi nước nhiều thứ báu làm thành phóng ánh sáng màu một thứ báu. Những ánh sáng nầy chiếu đến tâm rừng rậm của chúng sanh, làm xong vô lượng sự nghiệp của chúng sanh, nghiêm sức tất cả cảnh giới thế gian, làm cho các chúng sanh tâm được mát mẻ rất hoan hỷ. Những sự như vậy sung mãn pháp giới.

Từ trong tướng bạch hào giữa chặng mày của Hải Tràng Tỳ kheo xuất hiện vô số trăm ngàn ức Ðế Thích đều tự tại nơi cảnh giới, trên đảnh có ma ni bửu châu chiếu sáng tất cả các Thiên cung điện. Chấn động tất cả Tu Di sơn vương, giác ngộ tất cả chư Thiên chúng, khen sức phước đức, nói sức trí huệ, sức sanh báo vui, sức trì chí, sức tịnh niệm, sức bền tâm Bồ đề đã phát, khen thích thấy Phật khiến trừ ham muốn thế gian, khen thích nghe pháp khiến nhàm cảnh thế gian, khen thích quán trí khiến tuyệt thế nhiễm, ngăn chiến trận của A tu la, dứt phiền não đấu tranh, diệt tâm sợ chết, phát nguyện hàng ma, hưng lập chánh pháp, thành xong tất cả sự nghiệp của chúng sanh. Những việc làm như vậy cùng khắp pháp giới.

Từ trên trán của Hải Tràng Tỳ kheo xuất hiện vô số trăm ngàn ức Phạm Thiên sắc tướng đoan nghiêm thế gian không sánh kịp oai nghi tịch tịnh, lời nói hay diệu, khuyên Phật thuyết pháp, khen Phật công đức làm cho các Bồ tát đều hoan hỷ, có thể làm xong vô lượng sự nghiệp cho chúng sanh, cùng khắp tất cả thế giới mười phương.

Từ trên đầu của Hải Tràng Tỳ kheo xuất hiện vô lượng Phật sát vi trần số chư Bồ tát đều dùng tướng hảo trang nghiêm nơi thân, phóng vô biên quang nói các công hạnh. Những là tán thán bố thí khiến bỏ xan tham được các diệu bửu trang nghiêm thế giới, xưng dương công đức trì giới khiến các chúng sanh dứt hẳn những điều ác mà an trụ nơi giới đại từ bi của Bồ tát. Nói tất cả pháp hữu vi thảy đều như mộng, nói những dục lạc không có tư vị khiến các chúng sanh rời sự ràng buộc của phiền não. Nói sức nhẫn nhục khiến các pháp tâm được tự tại. Khen thân kim sắc khiến các chúng sanh lìa nhơ sân hận, khởi hạnh đối trị tuyệt đường súc sanh. Khen hạnh tinh tấn khiến họ xa lìa thế gian phóng dật, đều siêng tu vô lượng diệu pháp. Lại tán thán thiền ba la mật khiến tất cả tâm được tự tại. Lại diễn thuyết bát nhã ba la mật khai thị chánh kiến, khiến các chúng sanh thích trí tự tại trừ những kiến chấp. Lại diễn thuyết những việc làm tùy thuận thế gian, khiến các chúng sanh dầu lìa sanh tử mà ở nơi các loài tự tại thọ sanh. Lại hiện thần thông biến hóa nói thọ mạng tự tại, khiến các chúng sanh phát đại thệ nguyện. Lại diễn thuyết thành tựu sức tổng trì, xuất sanh sức đại nguyện, sức tịnh trị tam muội, sức tự tại thọ sanh. Lại diễn thuyết các thứ trí như là trí biết khắp căn tánh của các chúng sanh, trí biết khắp tất cả tâm hành, trí biết khắp Như Lai thập lực, trí biết khắp chư Phật tự tại, những sự như vậy cùng khắp pháp giới.

Từ trên đảnh của Hải Tràng Tỳ kheo xuất hiện vô số trăm ngàn ức thân Như Lai. Thân đó không ai bằng, đủ các tướng hảo thanh tịnh trang nghiêm, oai quang rực rỡ như tòa núi vàng, vô lượng quang minh chiếu khắp mười phương, phát diệu âm thanh sung mãn pháp giới, thị hiện vô lượng sức thần thông. Vì tất cả thế gian mà mưa pháp vũ. Vì chư Bồ tát ngồi Bồ đề đạo tràng mà mưa pháp vũ bình đẳng biết khắp. Vì chư Bồ tát ở ngôi quán đảnh mà mưa pháp vũ nhập phổ môn. Vì chư Bồ tát Pháp Vương Tử vị mà mưa pháp vũ phổ trang nghiêm. Vì chư Bồ tát đồng tử vị mà mưa pháp vũ kiên cố sơn. Vì chư Bồ tát bất thối vị mà mưa pháp vũ hải tạng. Vì chư Bồ tát thành tựu chánh tâm vị mà mưa pháp vũ phổ cảnh giới. Vì chư Bồ tát phương tiện cụ túc vị mà mưa pháp vũ tự tánh môn. Vì chư Bồ tát sanh quý vị mà mưa pháp vũ tùy thuận thế gian. Vì chư Bồ tát tu hành vị mà mưa pháp vũ khắp bi mẫn. Vì chư Bồ tát tân học mà mưa pháp vũ tích tập tạng. Vì chư Bồ tát sơ phát tâm mà mưa pháp vũ nhiếp chúng sanh. Vì chư Bồ tát tín giải mà mưa pháp vũ vô tận cảnh giới khắp hiện tiền. Vì Sắc giới các chúng sanh mà mưa pháp vũ phổ môn. Vì chư Phạm Thiên mà mưa pháp vũ sanh lực. Vì chư ma chúng mà mưa pháp vũ tâm tràng. Vì chư Thiên Hóa Lạc mà mưa pháp vũ tịnh niệm. Vì chư Thiên Ðâu Suất mà mưa pháp vũ sanh ý. Vì chư Thiên Dạ Ma mà mưa pháp vũ hoan hỷ. Vì chư Thiên Ðao Lợi mà mưa pháp vũ mau trang nghiêm cõi hư không. Vì chư Dạ xoa vương mà mưa pháp vũ hoan hỷ. Vì chư Càn thát bà vương mà mưa pháp vũ kim cang luân. Vì chư A tu la vương mà mưa pháp vũ đại cảnh giới. Vì chư Ca lâu la vương mà mưa pháp vũ vô biên quang minh. Vì chư Khẩn na la vương mà mưa pháp vũ tất cả thế gian trí thù thắng. Vì chư nhơn vương mà mưa pháp vũ không say đắm. Vì chư Long vương mà mưa pháp vũ hoan hỷ tràng. Vì chư Ma hầu la già vương mà mưa pháp vũ bất hưu tức. Vì các chúng sanh địa ngục mà mưa pháp vũ chánh niệm trang nghiêm. Vì các súc sanh mà mưa pháp vũ trí huệ tạng. Vì các chúng sanh cõi Diêm La vương mà mưa pháp vũ vô úy. Vì các chúng sanh ở xứ ách nạn mà mưa pháp vũ phổ an ủi. Ðều làm cho tất cả chúng sanh được vào chúng hội Hiền Thánh. Những sự như vậy sung mãn pháp giới.

Lại nơi tất cả lỗ lông trên thân của Hải Tràng Tỳ kheo, mỗi mỗi đều phóng ra vô số Phật sát vi trần số quang minh võng. Mỗi mỗi quang minh võng đủ vô số sắc tướng, vô số trang nghiêm, vô số cảnh giới, vô số sự nghiệp, sung mãn tất cả thế giới mười phương.

Lúc đó, Thiện Tài đồng tử nhứt tâm quán sát Hải Tràng Tỳ kheo lòng rất khát ngưỡng. Ghi nhớ tam muội giải thoát của Tỳ kheo. Tư duy bất tư nghì Bồ tát tam muội của Tỳ kheo. Tư duy bất tư nghì phương tiện lợi ích chúng sanh của Tỳ kheo. Tư duy bất tư nghì vô tác dụng phổ trang nghiêm môn của Tỳ kheo. Tư duy trí thanh tịnh trang nghiêm pháp giới của Tỳ kheo. Tư duy trí thọ Phật gia trì của Tỳ kheo. Tư duy sức tự tại xuất sanh Bồ tát của Tỳ kheo. Tư duy sức đại nguyện kiên cố Bồ tát của Tỳ kheo. Tư duy sức thêm rộng Bồ tát hạnh của Tỳ kheo Hải Tràng.

Thiện Tài đồng tử đứng tư duy quán sát như vậy qua một ngày đêm, nhẫn đến bảy ngày đêm, nửa tháng, một tháng, đến sáu tháng, lại qua sáu ngày nữa Hải Tràng Tỳ kheo mới xuất tam muội. Thiện Tài đồng tử khen rằng:

Bạch đức Thánh! Hy hữu kỳ đặc, tam muội như thế rất là sâu xa, tam muội như vậy rất là quảng đại, tam muội như vậy cảnh giới vô lượng, tam muội như vậy thần lực khó nghĩ, tam muội như vậy quang minh không gì bằng, tam muội như vậy trang nghiêm vô số, tam muội như vậy oai lực khó chế ngự, tam muội như vậy cảnh giới bình đẳng, tam muội như vậy chiếu khắp mười phương, tam muội như vậy lợi ích vô hạn, vì có thể trừ diệt vô lượng khổ cho tất cả chúng sanh. Như là làm cho tất cả chúng sanh lìa khổ do tham, khỏi khổ địa ngục, súc sanh, đóng cửa ách nạn, mở đường nhơn Thiên, làm cho nhơn Thiên hoan hỷ. Làm cho họ thích thiền cảnh giới. Có thể làm cho tăng trưởng sự vui hữu vi. Có thể vì họ mà hiển bày sự vui giải thoát. Có thể vì họ dẫn phát tâm Bồ đề. Có thể khiến tăng trưởng hạnh phước trí. Có thể khiến tăng trưởng tâm đại bi. Có thể làm cho sanh khởi sức đại nguyện. Có thể làm cho minh liễu đạo Bồ tát. Có thể làm cho trang nghiêm trí cứu cánh. Có thể làm cho xu nhập cảnh Đại thừa. Có thể làm cho chiếu liễu hạnh Phổ Hiền. Có thể làm cho chứng được trí quang minh của các bậc Bồ tát. Có thể làm cho thành tựu các hạnh nguyện của tất cả Bồ tát. Có thể làm cho an trụ trong cảnh giới Nhứt thiết chủng trí.

Bạch đức Thánh! tam muội nầy tên là gì?

Hải Tràng Tỳ kheo nói:

Nầy thiện nam tử! Tam muội đây tên là Phổ nhãn xả đắc. Lại tên là Bát nhã ba la mật cảnh giới thanh tịnh quang minh. Lại gọi là Phổ trang nghiêm thanh tịnh môn.

Nầy thiện nam tử! Ta do tu tập bát nhã ba la mật nên được tam muội Phổ trang nghiêm thanh tịnh nầy và trăm vạn vô số tam muội.

Thiện Tài đồng tử thưa:

Bạch đức Thánh! Cảnh giới rốt ráo của tam muội nầy chỉ như vậy thôi ư?

Hải Tràng Tỳ kheo nói:

Nầy thiện nam tử! Lúc nhập tam muội nầy, thì
rõ biết tất cả thế giới không chướng ngại. Qua đến tất cả thế giới không chướng ngại. Vượt qua tất cả thế giới không chướng ngại. Trang nghiêm tất cả thế giới không chướng ngại. Tu trị tất cả thế giới không chướng ngại. Nghiêm tịnh tất cả thế giới không chướng ngại. Thấy tất cả Phật không chướng ngại. Quán tất cả chư Phật oai đức quảng đại không chướng ngại. Biết tất cả chư Phật thần lực tự tại không chướng ngại. Chứng tất cả chư Phật quảng đại lực không chướng ngại. Nhập tất cả chư Phật những công đức hải không chướng ngại. Thọ tất cả chư Phật vô lượng diệu pháp không chướng ngại. Nhập trong tất cả Phật pháp tu tập diệu hạnh không chướng ngại. Chứng trí tất cả chư Phật chuyển pháp luân bình đẳng không chướng ngại. Nhập tất cả chư Phật chúng hội đạo tràng không chướng ngại. Quán Phật pháp mười phương không chướng ngại. Ðại bi nhiếp thọ chúng sanh mười phương không chướng ngại. Thường khởi đại từ sung mãn mười phương không chướng ngại. Thấy thập phương chư Phật lòng không nhàm đủ, không chướng ngại. Nhập tất cả chúng sanh hải không chướng ngại. Biết căn tánh hải của tất cả chúng sanh không chướng ngại. Biết những căn sai biệt trí của tất cả chúng sanh không chướng ngại.

Nầy thiện nam tử! Ta chỉ biết một bát nhã ba la mật tam muội quang minh nầy. Còn như chư Bồ tát nhập trí huệ hải, tịnh pháp giới cảnh, đạt tất cả thú, khắp vô lượng cõi, tổng trì tự tại, tam muội thanh tịnh, thần thông quảng đại, biện tài vô tận, khéo nói các địa, làm chỗ nương cho chúng sanh, ta làm sao biết được những diệu hạnh đó, biện được công đức đó, rõ được chỗ làm đó, tỏ được cảnh giới đó, tột được nguyện lực đó, nhập được yếu môn đó, đạt được sở chứng đó, nói được đạo phần đó, trụ được tam muội đó, thấy được tâm cảnh đó, chứng được bao nhiêu trí huệ bình đẳng đó.

Nầy thiện nam tử! Từ đây qua phương nam có một xứ tên là Hải Triều. Xứ đó có khu viên lâm tên là Phổ Trang Nghiêm. Trong viên lâm đó có ưu bà di tên là Hưu Xả. Ngươi đến đó hỏi ưu bà di Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh? Thế nào tu Bồ tát đạo?

Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử ở chỗ Hải Tràng Tỳ kheo được thân kiên cố, được của báu diệu pháp, nhập thâm cảnh giới, trí huệ sáng suốt, tam muội chiếu sáng, trụ thanh tịnh giải, thấy pháp thậm thâm, tâm an trụ trong các môn thanh tịnh, trí huệ quang minh sung mãn mười phương.

Thiện Tài đồng tử rất vui mừng hớn hở vô lượng. Năm vóc gieo xuống đất đảnh lễ chân Hải Tràng Tỳ kheo, hữu nhiễu vô lượng vòng, cung kính chiêm ngưỡng tư duy quán sát ngậm ngùi luyến mộ. Nhớ danh hiệu của Hải Tràng Tỳ kheo. Tưởng dung nhan cử chỉ của Hải Tràng Tỳ kheo. Ghi âm thanh của Hải Tràng Tỳ kheo. Suy gẫm tam muội của Hải Tràng Tỳ kheo và đại nguyện cùng cảnh giới. Thọ lấy trí huệ quang minh thanh tịnh của Hải Tràng Tỳ kheo, sau đó từ tạ mà đi.

*Khi ấy Thiện Tài đồng tử nhờ sức thiện tri thức, y lời dạy của thiện tri thức, nhớ lời nói của thiện tri thức, thâm tâm mến thích thiện tri thức. Tự nghĩ rằng: Nhơn thiện tri thức, làm cho tôi được thấy Phật. Nhơn thiện tri thức làm cho tôi được nghe pháp. Thiện tri thức là thầy học của tôi, vì chỉ dạy tôi những Phật pháp. Thiện tri thức là nhãn mục của tôi, vì làm cho tôi thấy Phật như hư không. Thiện tri thức là chiếc đò của tôi, vì làm cho tôi được vào ao hoa sen của chư Phật Như Lai.

Vừa suy gẫm vừa đi lần qua phương nam đến xứ Hải Triều, thấy vườn Phổ Trang Nghiêm, tường rào bằng các thứ bửu bao bọc. Tất cả cây báu hàng liệt trang nghiêm. Tất cả cây bửu hoa rải những diệu hoa trải trên mặt đất. Tất cả cây bửu hương mùi thơm ngào ngạt xông khắp mười phương. Tất cả cây tràng hoa báu mưa tràng hoa báu lớn rủ xuống khắp nơi. Tất cả cây ma ni bửu vương mưa báu đại ma ni rải đầy khắp nơi. Tất cả cây bửu y mưa y phục nhiều màu, tùy cơ nghi giăng trải quanh vườn. Tất cả cây âm nhạc gió động thành tiếng êm dịu hơn Thiên nhạc. Tất cả cây đồ trang nghiêm mưa những vật quý báu kỳ diệu trần thiết nghiêm sức khắp nơi. Mặt đất trong vườn thanh tịnh không có cao thấp. Trong vườn có trăm vạn điện đường xây bằng đại ma ni bửu. Có trăm vạn lâu các vàng diêm phù đàn che trùm phía trên. Trăm vạn cung điện, Tỳ lô giá na ma ni bửu xen lẫn trang nghiêm. Một vạn ao tắm các báu hiệp thành. Lan thuẫn bảy báu bao bọc giáp vòng, thềm đường bảy báu phân bố bốn phía. Nước tám công đức đứng lặng đầy ao, hơi thơm như Thiên chiên đàn. Cát vàng trải đáy ao. Bửu châu thủy thanh xen lẫn khắp nơi. Nhiều loại chim đẹp du ngoạn trong đó hót tiếng hòa nhã. Cây bửu đa la hàng liệt bao vòng, bửu võng giăng trùm, thòng những linh vàng, gió nhẹ rung thường vang tiếng dịu. Giăng màn đại bửu. Dựng vô số ma ni bửu tràng quang minh chiếu khắp trăm ngàn do tuần. Trong đó lại có trăm vạn ao, bùn hắc chiên đàn ngưng đọng đáy ao. Tất cả diệu bửu làm hoa sen nở trên mặt nước. Hoa đại ma ni màu sáng chiếu rực rỡ. Trong ao lại có cung điện rộng lớn tên là trang nghiêm tràng hải tạng, diệu bửu làm nền, tỳ lưu ly bửu làm cột, diêm phù đàn kim che trên, quang tạng ma ni dùng trang nghiêm, vô số bửu vương ánh sáng rực rỡ. Lầu nhiều từng giáp với gác nhiều thứ trang sức a lô na hương vương, giác ngộ hương vương, đều phát ra diệu hương xông khắp nơi.

Trong cung điện đó lại có vô lượng tòa bửu Liên hoa trần thiết giáp vòng. Như là tòa bửu liên hoa ma ni chiếu sáng mười phương. Tòa Tỳ lô giá na ma ni bửu liên hoa. Tòa ma ni bửu liên hoa chiếu sáng thế gian. Tòa diệu tạng ma ni bửu liên hoa. Tòa sư tử tạng ma ni bửu liên hoa. Tòa ly cấu tạng ma ni bửu liên hoa. Tòa phổ môn ma ni bửu liên hoa. Tòa quang nghiêm ma ni bửu liên hoa. Tòa an trụ đại hải tạng thanh tịnh ma ni vương bửu liên hoa. Tòa kim cang sư tử ma ni bửu liên hoa.

Trong vườn lại có trăm vạn thứ màn. Như là màn y phục, màn tràng hoa, màn hương, màn hoa, màn cành, màn ma ni, màn chơn kim, màn đồ trang nghiêm, màn âm nhạc, màn tượng vương thần biến, màn mã vương thần biến, màn ma ni bửu của Thiên Ðế đeo.

Lại có trăm vạn mành lưới đại bửu giăng che phía trên. Như là lưới bửu linh, lưới bửu cái, lưới bửu thân, lưới hải tạng chơn châu, lưới cám lưu ly ma ni bửu, lưới sư tử ma ni, lưới nguyệt quang ma ni, lưới thơm nhiều hình tượng, lưới bửu quang, lưới bửu anh lạc.

Lại có trăm vạn đại quang minh chiếu sáng. Như là quang minh diệm quang ma ni bửu. Quang minh nhựt ma ni bửu. Quang minh nguyệt tràng ma ni bửu. Quang minh hương diệm ma ni bửu. Quang minh thắng tạng ma ni bửu. Quang minh liên hoa tạng ma ni bửu. Quang minh diệm tràng ma ni bửu. Quang minh đại đăng ma ni bửu. Quang minh ma ni bửu chiếu khắp mười phương. Quang minh hương quang ma ni bửu.

Thường mưa trăm vạn đồ trang mghiêm, trăm vạn hương hắc chiên đàn vang ra âm thanh vi diệu, trăm vạn hoa mạn đà la hơn hoa cõi trời, trăm vạn chuỗi ngọc hơn chuỗi cõi trời để trang nghiêm, trăm vạn tràng hoa báu đẹp hơn cõi trời thòng xuống khắp nơi, trăm vạn y phục nhiều màu hơn cõi trời, trăm vạn ma ni bửu nhiều màu ánh sáng chiếu khắp nơi, trăm vạn Thiên tử vui mừng chiêm ngưỡng đầu mặt đảnh lễ, trăm vạn Thiên nữ ở giữa hư không bay xuống, trăm vạn Bồ tát cung kính thân cận thường thích nghe pháp.

Lúc ấy, Hưu Xả ưu bà di ngồi tòa chơn kim, đội mão hải tạng chơn châu võng, đeo bửu xuyến chơn kim hơn cõi trời, rủ tóc xanh biếc, đại ma bửu trang nghiêm trên đầu, sư tử khẩu ma ni bửu làm bông tai, như ý ma ni bửu vương làm chuỗi ngọc, bửu võng trùm trên thân. Trăm ngàn ức na do tha chúng sanh cúi mình cung kính.

Phương đông có vô lượng chúng đến chỗ ưu bà di. Như là Phạm Thiên, Phạm Chúng Thiên, Ðại Phạm Thiên, Phạm Phụ Thiên, Tự Tại Thiên, nhẫn đến tất cả hạng người và phi nhơn. Chín phương kia cũng như vậy.

Có ai thấy ưu bà di nầy thì tất cả bịnh khổ đều trừ diệt, lìa phiền não hết kiến chấp, xô núi chướng ngại, nhập nơi cảnh giới vô ngại thanh tịnh, thêm lớn tất cả những thiện căn, trưởng dưỡng các căn, vào tất cả môn trí huệ, vào tất cả môn tổng trì, tất cả môn tam muội, tất cả môn đại nguyện, tất cả môn diệu hạnh, tất cả môn công đức đều được hiện tiền. Tâm họ rộng lớn đầy đủ thần thông, thân không chướng ngại đến khắp mọi xứ.

Thiện Tài đồng tử vào vườn Phổ Trang Nghiêm, xem xét khắp nơi, thấy Hưu Xả ưu bà di ngồi diệu tòa, liền đến đảnh lễ chân ưu bà di rồi hữu nhiễu vô số vòng, thưa rằng:

Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề, mà chưa biết Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo? Tôi nghe đức Thánh khéo có thể dạy bảo, xin vì tôi mà giảng giải.

Ưu bà di nói:

Nầy thiện nam tử! Ta chỉ được một môn giải thoát của Bồ tát. Nếu có ai thấy nghe nhớ nghĩ đến ta, cùng ta ở chung, cung cấp cho ta thì không luống công.

Nầy thiện nam tử! Nếu có chúng sanh chẳng gieo căn lành, chẳng được thiện hữu nhiếp thọ, chẳng được chư Phật hộ niệm, kẻ đó chẳng thấy được ta.

Nầy thiện nam tử! Có chúng sanh nào được thấy ta thì đều được chẳng thối chuyển Vô thượng Bồ đề.

Nầy thiện nam tử! Chư Phật phương đông thường đến đây, ngự trên bửu tòa vì ta mà thuyết pháp. Chư Phật chín phương kia cũng vậy.

Nầy thiện nam tử! Ta thường chẳng rời thấy Phật, nghe pháp, cùng chư Bồ tát ở chung.

Nầy thiện nam tử! Nơi vườn nầy có tám muôn
bốn ngàn ức na do tha đại chúng cùng ta đồng hành, đều bất thối chuyển nơi Vô thượng Bồ đề. Những chúng sanh khác ở trong vườn nầy cũng đều nhập bực Bất thối chuyển.

Thiện Tài thưa:

Bạch đức Thánh! Ngài phát tâm Vô thượng Bồ đề được bao lâu?

Uu bà di nói:

Nầy thiện nam tử! Ta nhớ quá khứ ở chỗ đức Nhiên Ðăng Phật, ta tu hành Phạm hạnh, cung kính cúng dường nghe pháp thọ trì. Trước đó, ở chỗ đức Ly Cấu Phật, ta xuất gia học đạo thọ trì chánh pháp.

Trước đó, ở chỗ đức Diệu Tràng Phật. Trước nữa ở chỗ đức Thắng Tu Di Phật. Trước nữa ở chỗ đức Liên Hoa Ðức Tạng Phật. Trước nữa ở chỗ đức Tỳ Lô Giá Na Phật. Trước nữa chỗ đức Phổ Nhãn Phật. Trước nữa ở chỗ đức Phạm Thọ Phật. Trước nữa ở chỗ đức Kim Cang Tê Phật. Trước nữa ở chỗ đức Bà Lâu Na Thiên Phật.

Nầy thiện nam tử! Ta nhớ thuở quá khứ vô lượng kiếp, trong vô lượng đời, thứ đệ như vậy ở chỗ ba mươi sáu hằng hà sa đức Phật, ta đều thờ kính cúng dường nghe pháp thọ trì tịnh tu Phạm hạnh. Quá đây về trước thời Phật trí mới biết
được, chẳng phải trí của ta có thể lường đến.

Nầy thiện nam tử! Bồ tát mới phát tâm không có hạn lượng, vì sung mãn tất cả pháp giới. Bồ tát đại bi môn không hạn lượng, vì vào khắp tất cả thế gian. Bồ tát đại nguyện môn không hạn lượng, vì rốt ráo mười phương pháp giới. Bồ tát đại từ môn không hạn lượng, vì che khắp tất cả chúng sanh. Bồ tát tu hành không hạn lượng, vì tu tập trong tất cả cõi tất cả kiếp. Bồ tát tam muội lực không hạn lượng, vì làm cho Bồ tát đạo chẳng thối chuyển. Bồ tát tổng trì lực không hạn lượng, vì có thể nhiếp trì tất cả thế gian. Bồ tát trí quang lực không hạn lượng, vì có thể chứng nhập khắp tam thế. Bồ tát thần thông lực không hạn lượng, vì hiện khắp tất cả cõi. Bồ tát biện tài lực không hạn lượng, vì một âm thanh mà tất cả đều hiểu. Bồ tát thanh tịnh thân không hạn lượng, vì đều khắp tất cả cõi Phật.

Thiện Tài thưa:

Bạch đức Thánh! Bao lâu nữa Ngài sẽ chứng Vô thượng Bồ đề?

Hưu Xả ưu bà di nói:

Nầy thiện nam tử! Bồ tát chẳng vì giáo hóa điều phục một chúng sanh mà phát Bồ đề tâm. Chẳng vì giáo hóa điều phục trăm chúng sanh, ngàn chúng sanh, cho đến chẳng vì giáo hóa điều phục bất khả thuyết bất khả thuyết chúng sanh mà phát Bồ đề tâm. Chẳng vì giáo hóa chúng sanh trong một thế giới, nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới mà phát Bồ đề tâm. Chẳng vì giáo hóa Diêm Phù Ðề vi trần số chúng sanh, Đại thiên thế giới vi trần số chúng sanh, nhẫn đến chẳng vì giáo hóa bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới vi trần số thế giới chúng sanh mà phát Bồ đề tâm.

Chẳng vì cúng dường một đức Như Lai, nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết đức Như Lai mà phát Bồ đề tâm. Chẳng vì cúng dường chư Như Lai thứ đệ xuất thế trong một thế giới, nhẫn đến trong bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới mà phát Bồ đề tâm. Chẳng vì cúng dường chư Như Lai thứ đệ xuất thế trong Đại thiên thế giới vi trần số thế giới, nhẫn đến trong bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới vi trần số thế giới mà phát Bồ đề tâm.

Chẳng vì nghiêm tịnh một thế giới nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới mà phát Bồ đề tâm. Chẳng vì nghiêm tịnh một Đại thiên thế giới vi trần số thế giới nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới vi trần số thế giới mà phát Bồ đề tâm.

Chẳng vì trụ trì giáo pháp của một đức Như Lai nhẫn đến của bất khả thuyết bất khả thuyết đức Như Lai mà phát Bồ đề tâm. Chẳng vì trụ trì giáo pháp của một thế giới Như Lai nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới Như Lai mà phát Bồ đề tâm. Chẳng vì trụ trì giáo pháp của một Diêm Phù Đề vi trần số thế giới Như Lai, nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số thế giới Như Lai mà phát Bồ đề tâm.

Như vậy lược nói, chẳng vì mãn thệ nguyện của một Như Lai, chẳng vì đến một Phật độ, chẳng vì nhập một Phật chúng hội, chẳng vì trì một Phật pháp nhãn, chẳng vì chuyển một Phật pháp luân, chẳng vì biết những kiếp thứ đệ trong một thế giới, chẳng vì biết một chúng sanh tâm hải, chẳng vì biết một chúng sanh căn hải, chẳng vì biết một chúng sanh nghiệp hải, chẳng vì biết một chúng sanh hạnh hải, chẳng vì biết một chúng sanh phiền não hải, chẳng vì biết một chúng sanh phiền não tập hải, nhẫn đến chẳng vì biết bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số chúng sanh phiền não tập hải mà phát Bồ đề tâm.

Mà chính vì muốn giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh không để sót thừa nên phát Bồ đề tâm. Vì muốn cúng dường tất cả chư Phật không để sót nên phát Bồ đề tâm. Vì muốn nghiêm tịnh tất cả Phật độ không để sót nên phát Bồ đề tâm. Vì muốn hộ trì chánh pháp của tất cả chư Phật không để sót nên phát Bồ đề tâm. Vì muốn thành mãn đại nguyện của tất cả Như Lai không để sót mà phát Bồ đề tâm. Vì muốn đến tất cả Phật độ không để sót mà phát Bồ đề tâm. Vì muốn nhập tất cả Phật chúng hội không để sót mà phát Bồ đề tâm. Vì muốn biết những kiếp thứ đệ trong tất cả kiếp không để sót mà phát Bồ đề tâm. Vì muốn biết tất cả chúng sanh tâm hải không sót nên phát Bồ đề tâm. Vì muốn biết tất cả chúng sanh căn hải không sót nên phát Bồ đề tâm. Vì muốn biết tất cả chúng sanh nghiệp hải không sót nên phát Bồ đề tâm. Vì muốn biết tất cả chúng sanh hạnh hải không sót nên phát Bồ đề tâm. Vì muốn diệt tất cả chúng sanh phiền não hải không sót nên phát Bồ đề tâm. Vì muốn trừ tất cả chúng sanh phiền não tập hải không sót nên phát Bồ đề tâm.

Nầy thiện nam tử! Tóm lược mà nói, Bồ tát dùng vô lượng trăm ngàn vô số phương tiện hạnh như vậy mà phát Bồ đề tâm.

Nầy thiện nam tử! Bồ tát hạnh vào khắp tất cả pháp, vì đều chứng được. Vào khắp tất cả cõi, vì đều nghiêm tịnh. Vì thế nên thiện nam tử! Khi nghiêm tịnh hết tất cả thế giới thì nguyện của tôi mới hết. Khi dứt hết phiền não tập khí của tất cả
chúng sanh thì nguyện của tôi mới mãn.

Thiện Tài thưa:

Bạch đức Thánh! Môn giải thoát nầy tên là gì?

Hưu Xả ưu bà di nói:

Nầy thiện nam tử! Môn giải thoát nầy tên là Ly ưu an ổn tràng. Ta chỉ biết một môn giải thoát nầy. Như chư đại Bồ tát, tâm như biển cả có thể đều dung thọ tất cả Phật pháp. Như núi Tu Di, chí ý kiên cố chẳng bị lay động. Như vị thuốc thiện kiến, hay trừ những bịnh nặng phiền não của các chúng sanh. Như mặt nhựt sáng sạch, hay phá chúng sanh vô minh ám chướng. Dường như đại địa, hay làm chỗ y tựa cho tất cả chúng sanh. Như gió tốt, hay làm lợi ích cho tất cả chúng sanh. Như đèn sáng, hay vì chúng sanh mà sanh trí huệ quang. Như đại vân, hay vì chúng sanh mà mưa đại pháp tịch diệt. Như minh nguyệt, hay vì chúng sanh mà phóng phước đức quang. Như Thiên Ðế, đều hay thủ hộ tất cả chúng sanh. Như thế thì ta làm sao biết được hết, nói được hết những công đức đó.

Nầy thiện nam tử! Phương nam xứ Hải Triều đây có một nước tên là Na La Tố. Trong đó có Tiên nhơn tên là Tỳ Mục Cù Sa. Ngươi đến đó hỏi Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, tu Bồ tát đạo?

Lúc đó, Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân Hưu Xả ưu bà di, hữu nhiễu vô số vòng, ân cần chiêm ngưỡng, buồn khóc rơi lệ. Tự nghĩ rằng: Được Bồ đề khó, gần thiện tri thức khó, gặp thiện tri thức khó, được gặp đồng hành thiện tri thức khó, đúng lý quán sát khó, y giáo tu hành khó, Bồ tát căn khó, tịnh Bồ tát căn khó, gặp gỡ xuất sanh thiện tâm phương tiện khó, gặp gỡ thêm lớn Nhứt thiết trí pháp quang minh khó. Nghĩ xong, Thiện Tài từ tạ ưu bà di mà đi.

Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử tùy thuận tư duy chánh giáo của Bồ tát. Tùy thuận tư duy tịnh hạnh của Bồ tát. Sanh tâm tăng trưởng phước lực của Bồ tát. Sanh tâm thấy rõ tất cả chư Phật. Sanh tâm xuất sanh tất cả chư Phật. Sanh tâm tăng trưởng tất cả đại nguyện. Sanh tâm thấy khắp các pháp mười phương. Sanh tâm chiếu rõ thiệt tánh của các pháp. Sanh tâm phá tan khắp tất cả chướng ngại. Sanh tâm quán sát pháp giới không tối. Sanh tâm thanh tịnh ý bửu trang nghiêm. Sanh tâm xô dẹp tất cả chúng ma.

Thiện Tài đồng tử lần lần du hành đến nước Na La Tố tìm Tiên nhơn Tỳ Mục Cù Sa, thấy một khu rừng lớn, vô số cây trang nghiêm. Như là những cây lá rậm rợp che mát, những cây nở hoa sặc sỡ, những cây đơm trái chín tiếp nối. Lại có những cây báu mưa trái ma ni, những cây chiên đàn lớn bày hàng khắp nơi, những cây trầm thủy thường thoảng hương thơm, những cây duyệt ý hương thơm tho trang nghiêm, những cây ba tra la bao bọc bốn phía, những cây ni câu luật cao vút, những cây diêm phù đàn thường mưa trái ngọt, những bông sen xanh, bông sen đỏ trang nghiêm ao hồ.

Thiện Tài đồng tử thấy Tiên nhơn Tỳ Mục Cù Sa trải cỏ ngồi dưới cây chiên đàn, đồ chúng mười ngàn người. Có người mặc da nai, mặc vỏ cây, có người bện cỏ làm y phục, vấn tóc, để râu trước sau vây quanh. Thiện Tài đến mọp lạy thưa Tiên nhơn rằng:

Nay tôi được gặp chơn thiện tri thức. Thiện tri thức là cửa xu hướng Nhứt thiết trí, vì làm cho tôi được vào đạo chơn thiệt. Thiện tri thức là cỗ xe xu hướng Nhứt thiết trí, vì làm cho tôi được đến Như Lai địa. Thiện tri thức là thuyền xu hướng Nhứt thiết trí, vì làm cho tôi được đến châu trí bửu. Thiện tri thức là đuốc xu hướng Nhứt thiết trí, vì khiến tôi được sanh ánh sáng thập lực. Thiện tri thức là đường xu hướng Nhứt thiết trí, vì làm cho tôi được vào thành Niết bàn. Thiện tri thức là đèn xu hướng Nhứt thiết trí, vì làm cho tôi thấy được đường yên lành hay hiểm trở. Thiện tri thức là cầu xu hướng Nhứt thiết trí, vì làm cho tôi qua khỏi chỗ hiểm ác. Thiện tri thức là lọng xu hướng Nhứt thiết trí, vì làm cho tôi được sanh lòng đại từ mát mẻ. Thiện tri thức là con mắt xu hướng Nhứt thiết trí, vì làm cho tôi được thấy môn pháp tánh. Thiện tri thức là nước triều xu hướng Nhứt thiết trí, vì làm cho tôi đầy đủ nước đại bi.

Nói xong, Thiện Tài đứng dậy hữu nhiễu vô lượng vòng đứng chắp tay thưa rằng:

Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề, mà chưa biết Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo? Tôi nghe đức Thánh khéo dạy dỗ. Xin chỉ dạy cho tôi.

Tỳ Mục Cù Sa đoái nhìn đồ chúng mà nói:

Nầy đại chúng! Ðồng tử nầy đã phát tâm Vô thượng Bồ đề, khắp ban sự vô úy cho tất cả chúng sanh, khắp ban sự lợi ích cho tất cả chúng sanh, thường quán sát trí hải của tất cả chư Phật. Ðồng tử nầy muốn uống tất cả pháp vũ cam lồ, muốn lường tất cả pháp hải rộng lớn, muốn cho chúng sanh an trụ trong trí hải, muốn khắp phát khởi mây bi rộng lớn, muốn khắp mưa pháp vũ rộng lớn, muốn dùng trí nguyệt chiếu khắp thế gian, muốn diệt thế gian phiền não độc nhiệt, muốn làm lớn tất cả thiện căn cho chúng sanh.

Tiên chúng nghe lời trên đây rồi đều đem những hương hoa đẹp tốt rải trên thân Thiện Tài, làm lễ cung kính mà nói rằng:

Ðồng tử nầy tất sẽ cứu hộ tất cả chúng sanh, tất sẽ trừ diệt khổ địa ngục, tất sẽ dứt hẳn loài súc sanh, tất sẽ chuyển bỏ cõi Diêm La vương, tất sẽ đóng bít cửa chướng nạn, tất sẽ làm khô cạn biển ái dục, tất làm cho chúng sanh diệt hẳn khổ uẩn, tất sẽ phá hẳn vô minh hắc ám, tất sẽ dứt hẳn dây trói tham ái, tất sẽ dùng dãy núi phước đức bao bọc thế gian, tất sẽ đem đại bửu trí huệ hiển thị thế gian, tất sẽ xuất hiện trí nhựt thanh tịnh, tất sẽ khai thị pháp tạng thiện căn, tất làm cho thế gian biết rõ là hiểm khó hay là dễ dàng.

Tỳ Mục Cù Sa bảo quần tiên rằng:

Nếu có người hay phát tâm Vô thượng Bồ đề, tất sẽ được thành đạo Nhứt thiết trí. Ðồng tử nầy đã phát tâm Vô thượng Bồ đề tất sẽ tịnh bực tất cả công đức của chư Phật.

Tỳ Mục Cù Sa bảo Thiện Tài:

Nầy thiện nam tử! Ta được môn Bồ tát vô thắng tràng giải thoát.

Thiện Tài thưa:

Bạch đức Thánh! Cảnh giới của Vô thắng tràng giải thoát như thế nào?

Lúc đó, Tỳ Mục Cù Sa Tiên nhơn liền giơ tay hữu xoa đầu Thiện Tài, cầm tay Thiện Tài. Thiện Tài liền thấy mình đến trong mười Phật sát vi trần số thế giới mười phương, chỗ của mười Phật sát vi trần số thế giới chư Phật. Thấy chư Phật và chúng hội cùng Phật độ trang nghiêm thanh tịnh. Lại nghe chư Phật tùy sở thích của các chúng sanh mà thuyết pháp, mỗi câu, mỗi văn đều thông đạt cả, đều riêng thọ trì không tạp loạn. Cũng biết đức Phật đó dùng những tri giải tịnh trị các nguyện. Cũng biết chư Phật đó dùng thanh tịnh nguyện thành tựu các lực. Cũng thấy chư Phật đó tùy chúng sanh tâm mà hiện sắc tướng. Cũng thấy chư Phật đó, lưới đại quang minh nhiều màu sắc thanh tịnh viên mãn. Cũng biết chư Phật đó, trí huệ vô ngại sức đại quang minh.

Thiện Tài lại tự thấy mình ở chỗ chư Phật qua một ngày đêm, hoặc bảy ngày đêm, nửa tháng, một tháng, một năm, mười năm, trăm năm, ngàn năm, hoặc trải qua ức năm, hoặc a du đa ức năm, hoặc na do tha ức năm, hoặc trải qua nửa kiếp, hoặc một kiếp, trăm kiếp, ngàn kiếp, hoặc trăm ngàn kiếp, nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số kiếp.

Nhờ Bồ tát vô thắng tràng giải thoát trí quang minh chiếu đến, nên Thiện Tài đồng tử được Tỳ lô giá na tạng tam muội quang minh. Nhờ Vô tận trí giải thoát tam muội quang minh chiếu đến nên Thiện Tài được Phổ nhiếp chư phương đà la ni quang minh. Nhờ Kim cang luân đà la ni môn quang minh chiếu đến, nên Thiện Tài được Cực thanh tịnh trí huệ tâm tam muội quang minh. Nhờ Phổ môn trang nghiêm tạng bát nhã ba la mật quang minh chiếu đến, nên Thiện Tài được Phật hư không tạng luân tam muội quang minh. Nhờ Nhứt thiết Phật pháp luân tam muội quang minh chiếu đến, nên Thiện Tài được Tam thế vô tận trí tam muội quang minh.

Bấy giờ, Tiên nhơn Tỳ Mục Cù Sa buông tay Thiện Tài đồng tử. Thiện Tài liền tự thấy mình ở tại chỗ cũ. Tiên nhơn bảo Thiện Tài:

Nầy Thiện nam tử! Ngươi có ghi nhớ chăng?

Thiện Tài thưa:

Bạch vâng! Ðây là do sức của đức Thánh thiện tri thức vậy.

Tiên Nhơn nói:

Nầy thiện nam tử! Ta chỉ biết môn Bồ tát vô thắng tràng giải thoát nầy. Như chư đại Bồ tát thành tựu tất cả tam muội thù thắng, được tự tại trong tất cả thời gian. Trong khoảng một niệm xuất sanh chư Phật vô lượng trí huệ. Dùng đèn Phật trí làm trang nghiêm để chiếu khắp thế gian. Trong một niệm vào khắp cảnh giới tam thế. Phân thân qua khắp cõi nước mười phương. Trí thân vào khắp tất cả pháp giới. Tùy theo tâm chúng sanh mà hiện ra trước họ, xem xét căn hành của họ để làm lợi ích, phóng tịnh quang minh rất đáng mến thích. Như thế, ta làm sao biết được tất cả, nói được tất cả công đức hạnh đó, thù thắng nguyện đó, trang nghiêm độ đó, trí cảnh giới đó, tam muội cảnh giới đó, thần thông biến hóa đó, giải thoát du hý đó, thân tướng sai biệt đó, âm thanh thanh tịnh đó, trí huệ quang minh đó.

Nầy thiện nam tử! Phương nam nầy có một tụ lạc tên là Y Sa Na, có Bà la môn tên là Thắng Nhiệt. Ngươi đến đó hỏi Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, tu Bồ tát đạo?

Thiện Tài đồng tử vui mừng hớn hở, đảnh lễ Tiên nhơn Tỳ Mục Cù Sa, hữu nhiễu vô số vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi qua phương nam.

Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử nhờ Bồ tát vô thắng tràng giải thoát chiếu đến nên được trụ chư Phật bất tư nghì thần lực, được chứng Bồ tát bất tư nghì giải thoát thần thông trí, được Bồ tát bất tư nghì tam muội trí quang minh, được tất cả thời gian huân tu tam muội trí quang minh, được biết rõ tất cả cảnh giới đều nương tưởng mà an trụ tam muội trí quang minh, được tất cả thế gian thù thắng trí quang minh. Ðều hiện thân mình ở tất cả chỗ. Dùng trí cứu cánh nói pháp bình đẳng không hai không phân biệt. Dùng trí sáng sạch chiếu khắp cảnh giới. Phàm những pháp được nghe đều có thể nhẫn thọ tin hiểu thanh tịnh. Nơi pháp tự tánh quyết định rõ ràng. Tâm luôn chẳng bỏ Bồ tát diệu hạnh. Cầu Nhứt thiết trí trọn không thối chuyển. Chứng được Thập lực trí huệ quang minh. Siêng cầu diệu pháp thường chẳng nhàm đủ. Dùng chánh tu hành nhập Phật cảnh giới. Xuất sanh Bồ tát vô lượng trang nghiêm, vô biên đại nguyện đều đã thanh tịnh. Dùng trí vô cùng tận mà biết vô biên thế giới võng. Dùng tâm không khiếp nhược mà độ vô lượng chúng sanh hải. Rõ vô biên công hạnh cảnh giới của Bồ tát. Thấy vô biên thế giới những thứ sai biệt, những thứ trang nghiêm. Nhập vô biên thế giới những cảnh vi tế. Biết vô biên thế giới những danh hiệu, những ngôn ngữ. Biết vô biên chúng sanh các tri giải, các công hạnh, các hạnh thành thục, những tưởng sai biệt.

Thiện Tài nghĩ tưởng thiện tri thức đồng thời đi lần đến tụ lạc Y Sa Na, thấy Thắng Nhiệt Bà la môn tu những khổ hạnh cầu Nhứt thiết trí: Bốn phía đốt lửa ngọn cao như núi lớn, ở giữa có núi đao cao nhọn vô cực. Thắng Nhiệt leo lên núi đao nhảy vào đống lửa. Lúc đó, Thiện Tài đến đảnh lễ chân Thắng Nhiệt mà thưa rằng:

Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề mà chưa biết Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo? Tôi nghe đức Thánh khéo dạy bảo, xin giảng giải cho tôi.

Thắng Nhiệt nói:

Nầy thiện nam tử! Nay ngươi có thể leo lên núi đao nầy, nhảy vào đống lửa nầy, thì những Bồ tát hạnh sẽ được thanh tịnh.

Lúc đó, Thiện Tài nghĩ rằng được thân người là khó, lìa các nạn là khó, được không nạn là khó, được tịnh pháp là khó, được gặp Phật là khó, đủ các căn là khó, nghe Phật pháp là khó, gặp người lành là khó, gặp chơn thiện tri thức là khó, thọ chánh giáo đúng lý là khó, được chánh mạng là khó, tùy pháp hành là khó. Ðây phải chăng là ma, bị ma sai sử chăng? Phải chăng là đồ đảng hiểm ác của ma trá hiện tướng Bồ tát thiện tri thức mà muốn làm chướng nạn cho thiện căn của tôi, muốn làm nạn thọ mạng để chướng sự tu hành đạo Nhứt thiết trí của tôi. Muốn kéo tôi vào trong các ác đạo. Muốn chướng pháp môn của tôi, chướng Phật pháp của tôi chăng?

Lúc Thiện Tài suy nghĩ như vậy, mười ngàn Phạm Thiên ở trên hư không bảo rằng:

Nầy thiện nam tử! Chớ nghĩ như vậy, chớ tưởng như vậy. Ðức Thánh đây đã được Kim cang diệm tam muội quang minh, phát đại tinh tấn độ các chúng sanh tâm không thối chuyển, muốn cạn tất cả biển tham ái, muốn triệt tất cả lưới tà kiến, muốn thiêu tất cả củi phiền não, muốn soi tất cả rừng mê lầm, muốn dứt tất cả điều lo sợ về vấn đề già chết, muốn hoại tất cả chướng tam thế, muốn phóng tất cả pháp quang minh.

Nầy thiện nam tử! Phạm Thiên chúng tôi phần nhiều chấp tà kiến, đều tự cho mình là bậc tự tại, là đấng làm ra tất cả, là tối thắng trong thế gian. Khi thấy Bà la môn nầy dùng năm thứ lửa đốt thân, lòng chúng tôi không còn mến luyến cung điện của mình, chẳng còn tham đắm các thiền định, cùng nhau đến chỗ Bà la môn nầy. Bấy giờ, Bà la môn nầy dùng sức thần thông hiển thị sự khổ hạnh lớn vì chúng tôi mà thuyết pháp, có thể làm cho chúng tôi diệt tất cả sự chấp, trừ tất cả kiêu mạn, an trụ đại từ, thực hành đại bi, phát khởi tâm quảng đại, phát Bồ đề tâm, thường thấy chư Phật, hằng nghe diệu pháp, ở tất cả chỗ tâm không chướng ngại.

Lại có mười ngàn chư ma ở trên hư không đem Thiên ma ni bửu rải trên mình Bà la môn mà bảo Thiện Tài đồng tử rằng:

Nầy thiện nam tử! Lúc Bà la môn nầy dùng năm thứ lửa đốt thân, ánh sáng của lửa chiếu khuất chúng tôi, cung điện và những đồ trang nghiêm của chúng tôi đều như đống mực đen, làm cho chúng tôi không còn mến luyến. Chúng tôi cùng quyến thuộc đến chỗ Bà la môn. Ðức Thánh nầy nói pháp cho chúng tôi, làm cho chúng tôi và vô lượng Thiên tử cùng vô lượng Thiên nữ đều chẳng thối chuyển nơi Vô thượng Bồ đề.

Lại có mười ngàn Tự Tại Thiên vương ở trên hư không rải Thiên hoa, nói rằng:

Nầy thiện nam tử! Lúc Bà la môn nầy dùng năm thứ lửa đốt thân, ánh sáng của lửa nầy chiếu khuất chúng tôi, bao nhiêu cung điện và đồ trang nghiêm đều tối như đống mực, làm cho chúng tôi không còn mến luyến, bèn cùng quyến thuộc đến chỗ Bà la môn. Ðức Thánh nầy vì chúng tôi mà thuyết pháp, làm cho chúng tôi được tự tại nơi tâm, được tự tại trong phiền não, được tự tại trong thọ sanh, được tự tại nơi nghiệp chướng, được tự tại nơi các tam muội, được tự tại nơi những đồ trang nghiêm, được tự tại nơi thọ mạng, nhẫn đến được tự tại nơi tất cả Phật pháp.

Lại có mười ngàn Hóa Lạc Thiên vương ở trong hư không trỗi Thiên nhạc cung kính cúng dường, nói rằng:

Nầy thiện nam tử! Lúc Bà la môn nầy dùng năm thứ lửa đốt thân, ánh sáng của lửa nầy chiếu đến cung điện, đồ trang nghiêm và thể nữ của chúng tôi. Làm cho chúng tôi chẳng thọ dục lạc, chẳng cầu dục lạc, thân tâm nhu nhuyến. Chúng tôi liền cùng quyến thuộc đến chỗ của Bà la môn nầy. Ðức Thánh nầy vì chúng tôi mà thuyết pháp, làm cho thân tâm chúng tôi thanh tịnh, tâm được sáng sạch, tâm được thuần thiện, tâm nhu nhuyến, tâm hoan hỷ, nhẫn đến làm cho chúng tôi được thân thanh tịnh, thập lực thanh tịnh, sanh vô lượng thân, cho đến được Phật thân, Phật ngữ, Phật thanh, Phật tâm, thành tựu đầy đủ Nhứt thiết chủng trí.

Lại có mười ngàn Ðâu Suất Thiên vương, Thiên tử, Thiên nữ và quyến thuộc ở trên hư không rưới những diệu hương cung kính đảnh lễ, nói rằng:

Nầy thiện nam tử! Lúc Bà la môn nầy dùng năm thứ lửa đốt thân làm cho chư Thiên chúng tôi và quyến thuộc không còn mến luyến cung điện của mình, đồng đến chỗ nầy nghe đức Thánh đây thuyết pháp. Có thể làm cho chúng tôi chẳng tham cảnh giới, thiểu dục tri túc, tâm sanh hoan hỷ, tâm được sung mãn phát sanh thiện căn, phát Bồ đề tâm, nhẫn đến viên mãn tất cả Phật pháp.

Lại có mười ngàn Ðao Lợi chư Thiên và quyến thuộc Thiên tử, Thiên nữ ở trên hư không rải hoa Thiên mạn đà la cung kính cúng dường, nói rằng:

Nầy thiện nam tử! Lúc Bà la môn nầy dùng năm thứ lửa đốt thân, làm cho chư Thiên chúng tôi chẳng mến luyến Thiên âm nhạc, đồng đến chỗ nầy. Ðức Thánh đây vì chúng tôi mà nói những pháp vô thường hư tan, làm cho chúng tôi bỏ rời những dục lạc, dứt trừ kiêu mạn phóng dật, thích Vô thượng Bồ đề.

Lại nầy thiện nam tử! Lúc chúng tôi thấy đức Thánh đây, thì đảnh núi Tu Di chấn động sáu cách, chúng tôi kinh sợ, đồng phát tâm Bồ đề kiên cố chẳng động lay.

Lại có mười ngàn Long vương, như là Y Na Bạt La Long vương, Nan Ðà Long vương, Ưu Ba Nan Ðà Long vương, v.v… Ở trên hư không mưa hắc chiên đàn. Vô lượng Long nữ tấu Thiên âm nhạc, rải Thiên diệu hoa và Thiên hương thủy cung kính cúng dường. Nói rằng:

Nầy thiện nam tử! Lúc Bà la môn nầy dùng
năm thứ lửa đốt thân, ánh sáng của lửa nầy chiếu khắp tất cả Long cung, làm cho Long chúng khỏi sợ cát nóng, khỏi sợ Kim sí điểu, trừ sân hận, thân mát mẻ, tâm không nhơ, nghe pháp liền tin hiểu, nhàm ghét loài rồng, chí thành sám hối nghiệp chướng, nhẫn đến phát tâm Vô thượng Bồ đề, an trụ nơi Nhứt thiết trí.

Lại có mười ngàn Dạ xoa vương ở trên hư không cung kính cúng dường Bà la môn nầy và Thiện Tài đồng tử mà nói rằng:

Nầy Thiện nam tử! Lúc Bà la môn nầy dùng năm thứ lửa đốt thân, chúng tôi cùng quyến thuộc đều phát tâm từ mẫn đối với chúng sanh. Tất cả La sát, Cưu bàn trà, v.v… cũng sanh lòng từ mẫn. Vì có tâm từ mẫn nên không não hại chúng sanh, đồng đến chỗ chúng tôi. Chúng tôi và đại chúng ấy không luyến mến cung điện của mình, đồng nhau đến chỗ nầy. Ðức Thánh đây liền theo cơ nghi mà thuyết pháp làm cho chúng tôi thâm tâm đều được an lạc. Lại làm cho vô lượng Dạ xoa, La sát, Cưu bàn trà, v.v… phát tâm Vô thượng Bồ đề.

Lại có mười ngàn Càn thát bà vương ở trên hư không mà nói rằng:

Nầy thiện nam tử! Lúc Bà la môn đây dùng năm thứ lửa đốt thân, ánh sáng của lửa nầy chiếu cung điện của chúng tôi, làm cho chúng tôi thọ bất tư nghì vô lượng khoái lạc. Vì thế chúng tôi đến chỗ nầy. Ðức Thánh đây vì chúng tôi mà thuyết pháp làm cho chúng tôi được chẳng thối chuyển Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Lại có mười ngàn A tu la vương ra khỏi đại hải ở giữa hư không duỗi đầu gối, hữu chắp tay làm lễ mà nói rằng:

Nầy thiện nam tử! Lúc Bà la môn nầy dùng năm thứ lửa đốt thân thì cung điện của chúng tôi và đại hải, đại địa đều chấn động, làm cho chúng tôi bỏ kiêu mạn phóng dật. Do đó chúng tôi đến chỗ nầy nghe pháp, rời bỏ siểm cuống, an trụ nhẫn địa kiên cố bất động, viên mãn thập lực.

Lại có mười ngàn Ca lâu la vương, Dũng Lực Trì vương làm thượng thủ. Ðồng hóa làm thân ngoại đạo đồng tử ở trên không xướng rằng:

Nầy thiện nam tử! Lúc Bà la môn nầy dùng năm thứ lửa đốt thân, ánh sáng của lửa chiếu cung điện chúng tôi, tất cả đều chấn động, thảy đều kinh sợ. Do đó chúng tôi đồng đến chỗ nầy. Ðức Thánh đây tùy nghi mà thuyết pháp cho chúng tôi, khiến chúng tôi tu tập đại từ, khen ngợi đại bi, qua khỏi biển sanh tử, ở trong sình lầy ái dục mà cứu vớt chúng sanh, khen Bồ đề tâm, khởi trí phương tiện, tùy cơ nghi điều phục chúng sanh.

Lại có mười ngàn Khẩn na la vương ở trong hư không xướng rằng:

Nầy thiện nam tử! Lúc Bà la môn nầy dùng năm thứ lửa đốt thân thì cung điện của chúng tôi ở, cùng những cây đa la, cây âm nhạc, cây diệu bửu, những lưới bửu linh, những dây lụa báu và những nhạc khí tự nhiên vang ra tiếng Phật, tiếng Pháp và tiếng bất thối chuyển Bồ tát Tăng, tiếng nguyện cầu Vô thượng Bồ đề, nói rằng: “Phương đó, nước đó có Bồ tát đó phát Bồ đề tâm. Phương đó, nước đó có Bồ tát tu hành khổ hạnh, khó xả mà xả được, nhẫn đến thanh tịnh hạnh Nhứt thiết trí. Phương đó, nước đó có Bồ tát đó qua đạo tràng. Nhẫn đến phương đó nước đó có đức Như Lai đó làm Phật sự xong liền nhập Niết bàn”.

Nầy thiện nam tử! Giả sử có người đem tất cả cỏ cây ở Diêm Phù Ðề nghiền nát thành vi trần, có thể đếm biết được số vi trần nầy. Còn trong cung điện của chúng tôi, những cây đa la, nhẫn đến nhạc khí nói Bồ tát danh, Như Lai danh, phát đại nguyện, chỗ tu hành, v.v…không ai biết được ngằn mé.

Nầy thiện nam tử! Vì chúng tôi được nghe tiếng Phật, tiếng Pháp, tiếng Bồ tát Tăng nên rất hoan hỷ, cùng nhau đến chỗ nầy. Ðức Thánh nầy liền vì chúng tôi mà thuyết pháp. Làm cho chúng tôi và vô lượng chúng sanh được bất thối chuyển nơi Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Lại có vô lượng chư Thiên Dục giới ở trên hư không dùng đồ cúng vi diệu cung kính cúng dường, xướng rằng:

Nầy thiện nam tử! Lúc Bà la môn nầy dùng năm thứ lửa đốt thân, ánh sáng của lửa nầy chiếu sáng tất cả địa ngục A tỳ. Những kẻ chịu khổ đều làm cho thôi dứt. Chúng tôi thấy ánh sáng lửa nầy liền sanh lòng tịnh tín. Do lòng tin nên thân địa ngục chết được sanh lên cõi trời. Nhớ ơn, nên chúng tôi đến đây cung kính chiêm ngưỡng đức Thánh nầy lòng không nhàm đủ. Ðức Thánh đây vì chúng tôi mà thuyết pháp, làm cho vô lượng chúng sanh phát Bồ đề tâm.

Lúc đó, Thiện Tài đồng tử nghe pháp như vậy lòng rất hoan hỷ, xem Bà la môn Thắng Nhiệt là bậc chơn thiện tri thức, cúi đầu kính lễ, xướng rằng:

Tôi sanh lòng bất thiện đối với đức Thánh thiện tri thức, ngưỡng mong đức Thánh cho tôi sám hối.

Thắng Nhiệt Bà la môn vì Thiện Tài mà nói kệ rằng:

Nếu có chư Bồ tát

Thuận theo thiện tri thức

Tất cả không nghi sợ

An trụ tâm chẳng động.

Nên biết người như vậy

Tất được lợi quảng đại

Ngồi dưới cây Bồ đề

Thành bực Vô Thượng Giác.

Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử liền leo lên núi dao tự nhảy vào đống lửa. Khi rơi xuống giữa chừng, Thiện Tài liền chứng được Bồ tát thiện trụ tam muội. Vừa chạm ngọn lửa, Thiện Tài lại chứng được Bồ tát tịch tịnh lạc thần thông tam muội. Thiện Tài thưa:

Bạch đức Thánh! Núi dao và đống lửa nầy, thân tôi vừa chạm đến thì được an ổn khoái lạc.

Thắng Nhiệt Bà la môn nói:

Nầy thiện nam tử! Ta chỉ được môn Bồ tát vô tận luân giải thoát. Còn như ngọn lửa đại công đức của chư đại Bồ tát có thể đốt cháy kiến hoặc của tất cả chúng sanh không để thừa, tất được bất thối chuyển, tâm vô cùng tận, tâm không giải đãi, tâm không khiếp nhược, phát tâm kiên cố như kim cang tạng, tâm chóng tu các công hạnh không trì huỡn, nguyện như phong luân trì khắp tất cả đại thệ tinh tấn đều không thối chuyển… Ta thế nào biết hết được, nói hết được công đức hạnh đó.

Nầy thiện nam tử! Phương nam đây có một thành tên là Sư Tử Phấn Tấn, trong thành ấy có một đồng nữ tên là Từ Hạnh. Ngươi đến đó hỏi Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, tu Bồ tát đạo?

Lúc đó, Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân Thắng Nhiệt Bà la môn, hữu nhiễu vô lượng vòng từ tạ mà đi.

*Thiện Tài đối với thiện tri thức sanh lòng rất tôn trọng. Sanh trí hiểu quảng đại thanh tịnh. Thường nhớ Đại thừa chuyên cầu Phật trí. Nguyện thấy chư Phật, quán pháp cảnh giới. Trí vô ngại thường hiện tiền. Quyết định biết rõ thiệt tế của các pháp, thường trụ tế, tất cả tam thế những sát na tế, như hư không tế, vô nhị tế, tất cả pháp vô phân biệt tế, tất cả nghĩa vô chướng ngại tế, tất cả kiếp vô thất hoại tế, tất cả Như Lai vô tế chi tế. Với tất cả Phật tâm vô phân biệt. Phá những lưới tưởng. Lìa những chấp trước. Chẳng chấp lấy chúng hội đạo tràng của chư Phật, cũng chẳng chấp lấy cõi nước thanh tịnh của chư Phật. Biết các chúng sanh đều không có ngã. Biết tất cả tiếng thảy đều như vang. Biết tất cả sắc thảy đều như bóng.

Thiện Tài đi lần về phương nam đến thành Sư Tử Phấn Tấn tìm Từ Hạnh đồng nữ. Nghe nói đồng nữ là con gái của vua Sư Tử Tràng, năm trăm đồng nữ hầu hạ, ở điện Tỳ Lô Giá Na Tạng, ngồi trên tòa long thắng chiên đàn túc kim tiền võng Thiên y mà thuyết diệu pháp. Thiện Tài đến cửa vương cung, thấy vô lượng đại chúng đi vào cung bèn hỏi:

Các Ngài hôm nay vào vương cung có việc gì thế?

Ðại chúng đáp:

Chúng tôi muốn đến nghe Từ Hạnh đồng nữ thuyết diệu pháp.

Nghe xong, Thiện Tài cũng đi vào vương cung, thấy điện Tỳ Lô Giá Na Tạng, đất bằng pha lê, cột bằng lưu ly, vách bằng kim cang, tường rào bằng vàng diêm phù đàn, trăm ngàn ánh sáng làm cửa nẻo, trang nghiêm với vô số báu, ma ni. Gương bửu tạng ma ni trang nghiêm giáp vòng. Dùng ma ni bửu tối thượng ở thế gian để trang sức. Vô số lưới báu giăng che phía trên. Trăm ngàn linh vàng vang tiếng vi diệu. Từ Hạnh đồng nữ da màu huỳnh kim, mắt tím biếc, tóc xanh biếc, dùng Phạm âm thanh để thuyết pháp.

Thiện Tài đồng tử thấy xong, đảnh lễ chân Từ
Hạnh đồng nữ hữu nhiễu vô số vòng, chắp tay cung kính thưa rằng:

Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề mà chưa biết Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, tu Bồ tát đạo? Tôi nghe đức Thánh khéo dạy bảo. Xin vì tôi mà giảng giải.

Ðồng nữ bảo Thiện Tài rằng:

Nầy thiện nam tử! Ngươi nên quán sát cung điện trang nghiêm của ta đây.

Thiện Tài vâng lời đảnh lễ, quán sát khắp cung điện. Thấy trong mỗi vách, mỗi cột, mỗi gương, mỗi tướng, mỗi hình, mỗi ma ni bửu, mỗi đồ trang nghiêm, mỗi linh, mỗi cây báu, mỗi hình tượng báu, mỗi bửu anh lạc đều hiện pháp giới tất cả Như Lai từ sơ phát tâm tu hạnh Bồ tát thành mãn đại nguyện, đầy đủ công đức, thành Đẳng Chánh Giác, chuyển diệu pháp luân, nhẫn đến thị hiện nhập Niết bàn. Tất cả ảnh tượng như vậy đều hiện rõ cả. Như trong nước thanh tịnh đứng lặng, thấy khắp hư không nhựt nguyệt tinh tú. Ðây là do sức thiện căn trong đời quá khứ của Từ Hạnh đồng nữ. Thiện Tài ghi nhớ những tướng chư Phật đã được thấy, đứng chắp tay chiêm ngưỡng đồng nữ.

Ðồng nữ bảo Thiện Tài rằng:

Nầy thiện nam tử! Đây là môn Bát nhã ba la mật phổ trang nghiêm. Ta ở chỗ ba mươi sáu hằng hà sa chư Phật cầu được pháp nầy. Chư Phật Như Lai đều dùng môn khác nhau làm cho ta nhập môn Bát nhã ba la mật phổ trang nghiêm nầy. Pháp của một đức Phật diễn nói, chư Phật khác chẳng nói lập lại.

Thiện Tài thưa:

Bạch đức Thánh! Cảnh giới của môn Bát nhã ba la mật phổ trang nghiêm nầy như thế nào?

Từ Hạnh nói:

Nầy thiện nam tử! Ta nhập môn Bát nhã ba la mật phổ trang nghiêm nầy, tùy thuận xu hướng tư duy quán sát ghi nhớ phân biệt liền được Phổ môn đà la ni, trăm vạn vô số môn đà la ni đều hiện tiền.

Như là: môn Phật sát đà la ni, môn Phật đà la ni, môn Pháp đà la ni, môn Chúng sanh đà la ni, môn Quá khứ đà la ni, môn Vị lai đà la ni, môn Hiện tại đà la ni, môn Thường trụ tế đà la ni, môn Phước đức đà la ni, môn Phước đức trợ đạo cụ đà la ni, môn Trí huệ đà la ni, môn Trí huệ trợ đạo cụ đà la ni, môn Chư nguyện đà la ni, môn Phân biệt chư nguyện đà la ni, môn Tập chư hạnh đà la ni, môn Thanh tịnh hạnh đà la ni, môn Viên mãn hạnh đà la ni, môn Nghiệp đà la ni, môn Nghiệp bất thất hoại đà la ni, môn Nghiệp lưu chú đà la ni, môn Nghiệp sở tác đà la ni, môn Xả ly ác nghiệp đà la ni, môn Tu tập chánh nghiệp đà la ni, môn Nghiệp tự tại đà la ni, môn Thiện hạnh đà la ni, môn Tam muội đà la ni, môn Tùy thuận tam muội đà la ni, môn Quán sát tam muội đà la ni, môn Tam muội cảnh giới đà la ni, môn Tùng tam muội khởi đà la ni, môn Thần thông đà la ni, môn Tâm hải đà la ni, môn Chủng chủng tâm đà la ni, môn Trực tâm đà la ni, môn Chiếu tâm trù lâm đà la ni, môn Điều tâm thanh tịnh đà la ni, môn Đà la ni biết chúng sanh từ đâu sanh, môn Đà la ni biết chúng sanh phiền não hiện hành, môn Đà la ni biết chúng sanh tập khí, môn Đà la ni biết phiền não phương tiện, môn Đà la ni biết chúng sanh giải, môn Đà la ni biết chúng sanh hạnh, môn Đà la ni biết chúng sanh hạnh chẳng đồng, môn Đà la ni biết chúng sanh tánh, môn Đà la ni biết chúng sanh dục, môn Đà la ni biết chúng sanh tưởng, môn Đà la ni thấy khắp mười phương, môn Thuyết pháp đà la ni, môn Đại bi đà la ni, môn Đại từ đà la ni, môn Tịch tịnh đà la ni, môn Ngôn ngữ đạo đà la ni, môn Phương tiện phi phương tiện đà la ni, môn Tùy thuận đà la ni, môn Sai biệt đà la ni, môn Phổ nhập đà la ni, môn Vô ngại tế đà la ni, môn Phổ biến đà la ni, môn Phật pháp đà la ni, môn Bồ tát pháp đà la ni, môn Thanh văn pháp đà la ni, môn Ðộc giác pháp đà la ni, môn Thế gian pháp đà la ni, môn Thế giới thành đà la ni, môn Thế giới hoại đà la ni, môn Thế giới trụ đà la ni, môn Tịnh thế giới đà la ni, môn Cấu thế giới đà la ni, môn Đà la ni nơi cấu thế giới hiện tịnh, môn Đà la ni nơi tịnh thế giới hiện tịnh, môn Thuần cấu thế giới đà la ni, môn Thuần tịnh thế giới đà la ni, môn Bất bình thản thế giới đà la ni, môn Bình thản thế giới đà la ni, môn Phúc thế giới đà la ni, môn Nhơn đà la võng thế giới đà la ni, môn Thế giới chuyển đà la ni, môn Đà la ni biết nương nơi tưởng mà an trụ, môn Đà la ni tế vào thô, môn Đà la ni thô vào tế, môn Thấy chư Phật đà la ni, môn Phân biệt thân Phật đà la ni, môn Phật quang minh trang nghiêm võng đà la ni, môn Phật viên mãn âm đà la ni, môn Phật pháp luân đà la ni, môn Thành tựu Phật pháp luân đà la ni, môn Sai biệt Phật pháp luân đà la ni, môn Vô sai biệt Phật pháp luân đà la ni, môn Giải thích Phật luân đà la ni, môn Chuyển Phật pháp luân đà la ni, môn Năng tác Phật sự đà la ni, môn Phân biệt Phật chúng hội đà la ni, môn Nhập Phật chúng hội hải đà la ni, môn Phổ chiếu Phật lực đà la ni, môn Chư Phật tam muội đà la ni, môn Chư Phật tam muội tự tại dụng đà la ni, môn Chư Phật sở trụ đà la ni, môn Chư Phật sở trì đà la ni, môn Chư Phật biến hóa đà la ni, môn Chư Phật tri chúng sanh tâm hành đà la ni, môn Chư Phật thần thông biến hiện đà la ni, môn đà la ni ở Ðâu Suất Thiên cung, nhẫn đến nhập Niết bàn, môn Đà la ni lợi ích vô lượng chúng sanh, môn Đà la ni nhập pháp thậm thâm, môn Đà la ni nhập pháp vi diệu, môn Bồ đề tâm đà la ni, môn Khởi Bồ đề tâm đà la ni, môn Trợ Bồ đề tâm đà la ni, môn Chư nguyện đà la ni, môn Chư hạnh đà la ni, môn Thần thông đà la ni, môn Xuất ly đà la ni, môn Tổng trì thanh tịnh đà la ni, môn Trí luân thanh tịnh đà la ni, môn Trí huệ thanh tịnh đà la ni, môn Bồ đề vô lượng đà la ni, môn Tự tâm thanh tịnh đà la ni.

Nầy thiện nam tử! Ta chỉ biết môn Bát nhã ba la mật phổ trang nghiêm. Còn như chư đại Bồ tát tâm lượng quảng đại khắp cõi hư không nhập vào pháp giới phước đức thành mãn, an trụ pháp xuất thế, xa hạnh thế gian, trí nhãn thanh tịnh xem khắp pháp giới. Huệ tâm quảng đại như hư không. Thảy đều thấy rõ tất cả cảnh giới. Ðược bực vô ngại tạng đại quang minh. Khéo hay phân biệt tất cả pháp nghĩa. Làm công hạnh thế gian mà chẳng nhiễm thế pháp. Hay lợi ích thế gian chẳng bị thế gian làm hoại. Khắp làm y chỉ cho tất cả thế gian. Biết khắp tâm hành của tất cả thế gian, tùy cơ nghi mà vì họ thuyết pháp. Trong tất cả thời gian hằng được tự tại… Như thế thì ta làm sao biết được, nói được hết công đức hạnh đó.

Nầy thiện nam tử! Phương nam đây có một nước tên là Tam Nhãn. Xứ đó có Tỳ kheo tên là Thiện Kiến. Ngươi đến đó hỏi Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, tu Bồ tát đạo?

Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân của Từ Hạnh đồng nữ, hữu nhiễu vô số vòng, luyến mộ chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.

Bấy giờ, Thiện Tài suy gẫm hạnh của Bồ tát an trụ rất sâu, pháp của Bồ tát chứng rất sâu, chỗ của Bồ tát nhập rất sâu. Suy gẫm chúng sanh vi tế trí rất sâu, thế gian nương nơi tưởng mà trụ rất sâu, hạnh của chúng sanh làm rất sâu, tâm lưu chú của chúng sanh rất sâu, chúng sanh như quang ảnh rất sâu, chúng sanh danh hiệu rất sâu, chúng sanh ngôn thuyết rất sâu. Suy gẫm trang nghiêm pháp giới rất sâu, gieo trồng nghiệp hạnh rất sâu, nghiệp trang sức thế gian rất sâu.

Thiện Tài đi lần qua phương nam đến nước Tam Nhãn tìm Tỳ kheo Thiện Kiến. Thấy Tỳ kheo ấy đi kinh hành trong rừng, tuổi trẻ dung mạo xinh đẹp, tóc xanh biếc xoáy về phía hữu không rối, đảnh đầu có nhục kế, da màu huỳnh kim, cổ có ba ngấn, trán rộng bằng thẳng, mắt dài rộng như thanh liên hoa, môi miệng đỏ sạch như trái tần bà, ngực có chữ “Vạn” (), bảy chỗ bằng đầy, cánh tay thon dài, ngón có màng lưới, trong bàn tay, bàn chân có kim cang luân, thân đẹp lạ như trời Tịnh Cư, trên dưới ngay thẳng như cây ni câu đà, những đại nhơn tướng và tùy hình hảo đều viên mãn cả, nghiêm sức như núi Tuyết, mắt nhìn chẳng nháy, viên quang một tầm, trí huệ rộng rãi như đại hải, nơi các cảnh giới tâm không bị động, hoặc trầm hoặc cử, hoặc trí hoặc phi trí, tất cả động chuyển hý luận đều trừ hết. Ðược cảnh giới bình đẳng của Phật. Lòng đại bi giáo hóa chúng sanh không tạm bỏ. Vì muốn lợi lạc tất cả chúng sanh. Vì muốn khai thị pháp nhãn Như Lai. Vì noi theo đường của Như Lai đi, chẳng chậm chẳng mau, đi kinh hành kỹ chắc.

Vô lượng Thiên, Long, Bát bộ cùng Nhơn, Phi nhơn vây quanh sau trước. Chủ Phương Thần theo phương hồi chuyển dẫn đường ở trước. Túc Hành Thần cầm bửu liên hoa đỡ chân Tỳ kheo. Vô Tận Quang Thần phóng quang phá tối. Diêm Phù Tràng Lâm Thần rải những hoa đẹp. Bất Ðộng Tạng Ðịa Thần hiện những bửu tạng. Phổ Quang Minh Hư Không Thần trang nghiêm hư không. Thành Tựu Ðức Hải Thần mưa ma ni bửu vô cấu tạng. Tu Di Sơn Thần đầu đảnh kính lễ cúi mình hiệp chưởng. Vô Ngại Lực Phong Thần rải hoa đẹp thơm. Xuân Hòa Chủ Dạ Thần trang nghiêm nơi thân cả mình mọp xuống đất. Thường Giác Chủ Trú Thần cầm tràng ma ni chiếu khắp các phương, ở giữa hư không phóng đại quang minh.

Thiện Tài đồng tử đến chỗ Thiện Kiến Tỳ kheo đảnh lễ chắp tay cúi mình thưa rằng:

Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề, cầu Bồ tát hạnh. Tôi nghe đức Thánh hay khéo khai thị những đạo Bồ tát. Xin vì tôi mà dạy thế nào học Bồ tát hạnh? Thế nào tu Bồ tát đạo?

Thiện Kiến Tỳ kheo nói:

Nầy thiện nam tử! Ta tuổi còn trẻ, xuất gia lại chưa được lâu. Trong đời nầy, ta tịnh tu Phạm hạnh ở chỗ ba mươi sáu hằng hà sa đức Phật. Hoặc có chỗ đức Phật, ta tu một ngày một đêm. Hoặc có chỗ đức Phật, ta tu bảy ngày bảy đêm. Hoặc có chỗ đức Phật, ta tu nửa tháng hoặc một tháng, một năm, trăm năm, muôn năm, ức năm, na do tha năm, nhẫn đến hoặc có chỗ đức Phật ta tu Phạm hạnh bất khả thuyết bất khả thuyết năm. Hoặc một tiểu kiếp, hoặc nửa đại kiếp, hoặc một đại kiếp, trăm đại kiếp, nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết đại kiếp nghe diệu pháp và thọ hành giáo pháp của chư Phật, trang nghiêm thệ nguyện, nhập chỗ sở chứng, tịnh tu công hạnh, đầy đủ sáu môn ba la mật hải.

Cũng thấy chư Phật đó thành đạo thuyết pháp, mỗi mỗi sai biệt không tạp loạn, trụ trì di giáo đến diệt tận. Cũng biết chư Phật đó trước kia phát nguyện, dùng nguyện lực tam muội nghiêm tịnh tất cả Phật độ. Dùng sức tam muội nhập tất cả hạnh mà tịnh tu tất cả Bồ tát hạnh. Dùng sức Phổ Hiền thừa xuất ly mà thanh tịnh tất cả Phật ba la mật.

Lại nầy thiện nam tử! Lúc ta kinh hành, trong một niệm, tất cả mười phương đều hiện tiền, vì trí huệ thanh tịnh vậy. Trong một niệm, tất cả thế giới đều hiện tiền vì đi qua bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới vậy. Trong một niệm, bất khả thuyết bất khả thuyết Phật độ thảy đều nghiêm tịnh, vì thành tựu sức đại nguyện vậy. Trong một niệm, bất khả thuyết bất khả thuyết chúng sanh sai biệt hạnh thảy đều hiện tiền, vì đầy đủ mười trí lực vậy. Trong một niệm, bất khả thuyết bất khả thuyết thân Phật thanh tịnh đều hiện tiền, vì thành tựu Phổ Hiền hạnh nguyện lực vậy. Trong một niệm cung kính cúng dường bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số Như Lai, vì thành tựu tâm nhu nhuyến nguyện lực cúng dường Như Lai vậy. Trong một niệm lãnh thọ bất khả thuyết bất khả thuyết Như Lai pháp, vì được chứng vô số pháp sai biệt trụ trì pháp luân đà la ni lực vậy. Trong một niệm, bất khả thuyết bất khả thuyết Bồ tát hạnh hải thảy đều hiện tiền, vì được nguyện lực hay tịnh tu tất cả hạnh như nhơn đà la võng. Trong một niệm, bất khả thuyết bất khả thuyết những tam muội hải thảy đều hiện tiền, vì được nguyện lực nơi một môn tam muội nhập tất cả môn tam muội đều khiến thanh tịnh. Trong một niệm, bất khả thuyết bất khả thuyết chư căn hải đều hiện tiền, vì được nguyện lực rõ biết chư căn tế, ở trong một căn thấy tất cả căn vậy. Trong một niệm, bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số thời gian thảy đều hiện tiền, vì được nguyện lực trong tất cả thời gian chuyển pháp luân, chúng sanh giới tận nhưng pháp luân vô tận vậy. Trong một niệm, bất khả thuyết bất khả thuyết tất cả tam thế hải thảy đều hiện tiền, vì được nguyện lực trí quang minh biết rõ tất cả phần vị tam thế trong tất cả thế giới vậy.

Nầy thiện nam tử! Ta chỉ biết môn giải thoát Bồ tát tùy thuận đăng nầy. Còn như chư đại Bồ tát như kim cang đăng ở nhà Như Lai chơn chánh thọ sanh, thành tựu đầy đủ mạng căn bất tử, thường thắp trí đăng không tắt mất. Thân của các Ngài kiên cố không bị chướng hoại, hiện thân sắc tướng như huyễn, như pháp duyên khởi vô lượng sai biệt, tùy tâm chúng sanh mỗi mỗi thị hiện hình mạo sắc tướng, trong đời không gì sánh bằng, tên độc, hỏa tai không hại được. Như núi kim cang không ai phá hư được. Hàng phục tất cả chúng ma ngoại đạo. Thân các Ngài đẹp tốt như núi chơn kim. Ở trong nhơn Thiên rất là thù đặc. Tiếng tốt rộng lớn không ai chẳng nghe biết. Xem các thế gian đều đối trước mắt. Diễn pháp tạng sâu như biển vô tận. Phóng đại quang minh chiếu khắp mười phương.

Nếu có ai thấy chư đại Bồ tát nầy thì phá tất cả núi lớn chướng ngại, thì nhổ tất cả gốc bất thiện, thì khiến gieo trồng gốc lành quảng đại. Những bậc như vậy rất khó thấy được, rất khó xuất hiện thế gian. Ta làm sao biết được, nói được công đức hạnh đó.

Nầy thiện nam tử! Phương nam đây có một nước tên là Danh Văn. Trong bãi sông của xứ đó có một đồng tử tên là Tự Tại Chủ. Người đến đó hỏi Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, tu Bồ tát đạo?

Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử vì muốn rốt ráo hạnh Bồ tát dũng mãnh thanh tịnh. Muốn được Bồ tát đại lực quang minh. Muốn tu những hạnh công đức vô thắng vô tận của Bồ tát. Muốn viên mãn đại nguyện kiên cố của Bồ tát. Muốn thành thâm tâm quảng đại của Bồ tát. Muốn trì vô lượng thắng hạnh của Bồ tát.Với Bồ tát phát tâm không nhàm đủ. Nguyện nhập tất cả công đức của Bồ tát. Muốn thường nhiếp ngự tất cả chúng sanh. Muốn vượt khỏi rừng rậm hoang vu sanh tử. Với các thiện tri thức thường thích thấy nghe, thờ phụng cúng dường không nhàm đủ. Thiện Tài đảnh lễ nơi chân Thiện Kiến Tỳ kheo, hữu nhiễu vô lượng vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.

Thiện Tài đồng tử thọ giáo nơi Thiện Kiến Tỳ kheo, nhớ, nghĩ, thọ trì, suy gẫm, tu tập biết rõ quyết định, được ngộ nhập pháp môn đó. Chúng Thiên, Long, Dạ xoa, Càn thát bà vây quanh trước sau đi theo Thiện Tài đồng tử.

Ðến nước Danh Văn, Thiện Tài tìm Tự Tại Chủ đồng tử. Thấy đồng tử nầy ở trên bãi sông cùng mười ngàn đồng tử gom cát để chơi. Thiện Tài đến đảnh lễ chân Tự Tại Chủ đồng tử hữu nhiễu vô lượng vòng, cung kính chắp tay thưa rằng:

Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề, mà chưa biết Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo? Xin đức Thánh giảng nói cho.

Tự Tại Chủ đồng tử nói:

Nầy thiện nam tử! Thuở xưa, ta ở chỗ Văn Thù Sư Lợi đồng tử học những pháp thơ, số, toán, ấn, v.v… liền được ngộ nhập Nhứt thiết công xảo thần thông trí pháp môn.

Ta nhơn pháp môn nầy nên được biết những pháp thơ, số, toán, ấn giới xứ ở thế gian, cũng có thể chữa lành tất cả những bịnh phong, điên, ốm gầy, quỷ mị dựa, v.v… Cũng có thể tạo lập thành ấp, tu lạc, vườn rừng, đền đài, cung điện, nhà cửa, cũng khéo điều luyện những tiên dược, cũng khéo kinh doanh tất cả sự nghiệp ruộng nương buôn bán, lấy bỏ tiến thối đều đúng cơ nghi. Ta lại khéo phân biệt biết thân tướng chúng sanh, làm lành, làm dữ, sẽ sanh cõi lành, sẽ sanh cõi ác. Người nầy đáng được đạo Thanh văn thừa, người nầy đáng được đạo Duyên giác thừa, người nầy đáng nhập Nhứt thiết trí địa. Những sự như vậy thảy đều biết được và cũng làm cho chúng sanh học tập những pháp nầy tăng trưởng quyết định rốt ráo thanh tịnh.

Nầy thiện nam tử! Ta cũng biết Bồ tát toán pháp. Như là một trăm lạc xoa*làm một câu chi. Câu chi lần câu chi làm một a giu đa. A giu đa lần a giu đa làm một na do tha. Na do tha lần na do tha làm một tần bà la. Tần bà la lần tần bà la làm một căng yết la. Nói rộng đến ưu bát la lần ưu bát la làm một ba đầu ma. Ba đầu ma lần ba đầu ma làm một tăng kỳ. Tăng kỳ lần tăng kỳ làm một thú. Thú lần thú làm một dụ. Dụ lần dụ làm một vô số. Vô số lần vô số làm một vô số chuyển. Vô số chuyển lần vô số chuyển làm một vô lượng. Vô lượng lần vô lượng làm một vô lượng chuyển. Vô lượng chuyển lần vô lượng chuyển làm một vô biên. Vô biên lần vô biên làm một vô biên chuyển. Vô biên chuyển lần vô biên chuyển làm một vô đẳng. Vô đẳng lần vô đẳng làm một vô đẳng chuyển. Vô đẳng chuyển lần vô đẳng chuyển làm một bất khả sổ. Bất khả sổ lần bất khả sổ làm một bất khả sổ chuyển. Bất khả sổ chuyển lần bất khả sổ chuyển làm một bất khả xưng. Bất khả xưng lần bất khả xưng làm một bất khả xưng chuyển. Bất khả xưng chuyển lần bất khả xưng chuyển làm một bất khả tư. Bất khả tư lần bất khả tư làm một bất khả tư chuyển. Bất khả tư chuyển lần bất khả tư chuyển làm một bất khả lượng. Bất khả lượng lần bất khả lượng làm một bất khả lượng chuyển. Bất khả lượng chuyển lần bất khả lượng chuyển làm một bất khả thuyết. Bất khả thuyết lần bất khả thuyết làm một bất khả thuyết chuyển. Bất khả thuyết chuyển lần bất khả thuyết chuyển làm một bất khả thuyết bất khả thuyết. Bất khả thuyết bất khả thuyết lần bất khả thuyết bất khả thuyết làm một bất khả thuyết bất khả thuyết chuyển.

Nầy thiện nam tử! Ta dùng Bồ tát toán pháp nầy để tính đống cát rộng lớn vô lượng do tuần, đều biết trong đó có bao nhiêu hột cát. Cũng có thể tính biết phương đông có tất cả bao nhiêu thế giới sai khác thứ đệ an trụ. Chín phương kia cũng như vậy. Ta cũng có thể tính biết mười phương có tất cả bao nhiêu thế giới rộng hẹp lớn nhỏ và danh hiệu, trong đó bao nhiêu tên của tất cả kiếp, tên của tất cả Phật, tên của tất cả chúng sanh, tên của tất cả nghiệp, tên của tất cả Bồ tát, tên của tất cả đế lý, ta đều biết rõ.

Nầy thiện nam tử! Ta chỉ biết một pháp môn Nhứt thiết công xảo đại thần thông trí quang minh nầy. Như chư đại Bồ tát có thể biết tất cả số chúng sanh, biết tất cả số phẩm loại của các pháp, biết số sai biệt của tất cả pháp, biết số tất cả tam thế, biết danh số tất cả chúng sanh, biết danh số tất cả các pháp, biết số tất cả Như Lai, biết danh số tất cả chư Phật, biết số tất cả Bồ tát, biết danh số tất cả Bồ tát… Như vậy ta làm sao biết được, nói được công đức đó; làm sao hiển thị được công hạnh và cảnh giới đó; làm sao khen được thắng lực đó, biện được lạc dục đó, tuyên được trợ đạo đó, bày được đại nguyện đó, khen được diệu hạnh đó, xiển dương được các ba la mật đó, diễn nói được thanh tịnh đó, nhẫn đến làm sao phát được trí huệ quang minh thù thắng đó.

Nầy thiện nam tử! Phương nam đây có một thành lớn tên là Hải Trụ. Trong thành ấy có một ưu ba di tên là Cụ Túc. Ngươi đến đó hỏi Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, tu Bồ tát đạo?

Thiện Tài đồng tử nghe lời trên đây cả mình rởn ốc, hoan hỷ vô lượng, được tâm tin mến hy hữu, thành tựu tâm rộng lớn lợi ích chúng sanh, đều có thể thấy rõ tất cả chư Phật thứ đệ xuất thế, đều có thể thông đạt pháp luân trí huệ thậm thâm thanh tịnh. Nơi tất cả các loài đều tùy loại hiện thân. Rõ biết cảnh giới tam thế bình đẳng. Xuất sanh vô tận công đức hải. Phóng đại trí huệ tự tại quang minh. Mở khóa cửa thành ba cõi. Thiện Tài đảnh lễ chân Tự Tại Chủ đồng tử, hữu nhiễu vô lượng vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.

Bấy giờ, Thiện Tài quán sát tư duy lời dạy của thiện tri thức, dường như biển lớn nhận nước mưa to không nhàm đủ. Tự nghĩ rằng lời dạy của thiện tri thức như nắng xuân, sanh trưởng tất cả gốc mầm pháp lành. Lời dạy của thiện tri thức như mãn nguyệt, phàm chỗ chiếu đến đều làm cho mát mẻ. Lời dạy của thiện tri thức như núi Tuyết mùa hạ, hay làm cho muông thú khỏi nóng khát. Lời dạy của thiện tri thức như mặt nhựt chiếu ao nước thơm, làm nở tất cả những hoa sen thiện tâm. Lời dạy của thiện tri thức như châu đại bửu, những pháp bửu sung mãn nơi tâm. Lời dạy của thiện tri thức như cây diêm phù chứa nhóm tất cả hoa quả phước trí. Lời dạy của thiện tri thức như đại Long vương, du hý tự tại trên hư không. Lời dạy của thiện tri thức như núi Tu Di, Ðao Lợi Thiên vô lượng thiện pháp ở trong đó. Lời dạy của thiện tri thức dường như Ðế Thích chúng hội vây quanh, không ai chói che được, hay phục ngoại đạo và chúng ma quân.

Thiện Tài đi lần đến thành Hải Trụ tìm đến nhà ưu ba di Cụ Túc. Nhà nầy rất rộng, nhiều thứ trang nghiêm, tường rào bao bọc toàn bằng những chất báu. Bốn phía đều có cửa bửu trang nghiêm.

Thiện Tài vào nhà, thấy Cụ Túc ưu bà di ngồi trên tòa báu, tuổi lớn xinh đẹp, đoan trang đáng kính, mặc y phục trắng, rủ tóc, không đeo chuỗi ngọc. Thân tướng của ưu bà di nầy oai đức quang minh, trừ Phật và đại Bồ tát, không ai bằng được.

Trong nhà để mười ức tòa ngồi, hơn cả nhơn Thiên. Ðây đều là do nghiệp lực Bồ tát hiện thành. Trong nhà không có y phục, đồ uống ăn và không có tất cả đồ cần dùng khác. Chỉ trước mặt ưu bà di nầy để một cái bát nhỏ.

Lại có một vạn đồng nữ xinh đẹp như Thiên nữ vây quanh, những diệu bửu trang sức nơi thân, lời nói dịu dàng người nghe đều vui đẹp. Các đồng nữ nầy thường thân cận hai bên ưu bà di tư duy quán sát, cúi đầu khom mình ứng chực sai khiến. Các đồng nữ nầy, nơi thân phát ra mùi thơm lan khắp nơi. Nếu có chúng sanh nào gặp được mùi thơm nầy thì đều được bất thối chuyển, không lòng giận hại, không lòng oán thù, không lòng tham ganh, không lòng dua dối, không lòng hiểm độc, không lòng yêu ghét, không lòng giận hờn, không lòng hạ liệt, không lòng cao mạn, sanh lòng bình đẳng, khởi tâm đại từ, phát tâm lợi ích, trụ tâm luật nghi, rời tâm tham cầu. Người thấy thân các đồng nữ nầy thì đều lìa tham nhiễm. Người nghe tiếng các đồng nữ nầy thì đều vui mừng hớn hở.

Thiện Tài đảnh lễ ưu bà di, cung kính hữu nhiễu, chắp tay bạch rằng:

Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề mà chưa biết Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo? Tôi nghe đức Thánh khéo dạy bảo, xin giảng nói cho.

Cụ Túc ưu bà di nói:

Nầy thiện nam tử! Ta được môn Giải thoát Bồ tát vô tận công đức tạng. Có thể ở trong một cái bát nhỏ nầy, tùy theo sở thích của tất cả chúng sanh, mà xuất hiện các thứ đồ uống ăn ngon lành, làm cho họ đều được no đủ cả.

Giả sử có trăm chúng sanh, ngàn chúng sanh, nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết chúng sanh, giả sử có Diêm Phù Đề vi trần số chúng sanh, tứ thiên hạ vi trần số chúng sanh, Tiểu thiên thế giới, Trung thiên thế giới, Đại thiên thế giới, nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số chúng sanh, giả sử tất cả chúng sanh cùng khắp mười phương thế giới, cũng đều tùy sở thích làm cho họ được no đủ cả mà trong bát nhỏ nầy, đồ dùng không cùng tận, không giảm ít. Như đồ uống ăn đây, các thứ thượng vị, các thứ giường tòa, các thứ y phục, các thứ chiếu nệm, các thứ xe cộ, các thứ hoa, các thứ tràng hoa, các thứ hương, các thứ hương thoa, các thứ hương đốt, các thứ hương bột, các thứ trân bửu, các thứ anh lạc, các thứ tràng, các thứ phan, các thứ lọng, các thứ đồ cần dùng thượng diệu, tùy ý tất cả chúng sanh thích đều làm cho được đầy đủ cả.

Lại nầy thiện nam tử! Giả sử phương đông trong một thế giới, hàng Thanh văn, Ðộc giác ăn đồ ăn của ta rồi thì đều chứng quả Thanh văn, quả Bích chi Phật trụ tối hậu thân. Như một thế giới, trăm thế giới, ức thế giới nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số thế giới, trong đó tất cả hàng Thanh văn và Ðộc giác ăn thực phẩm của ta rồi thì đều chứng quả Thanh văn và Bích chi Phật, trụ tối hậu thân. Như phương đông, chín phương kia cũng đều như vậy.

Lại nầy thiện nam tử! Phương đông một thế giới, nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát cực vi trần số thế giới, trong đó tất cả bực Nhứt sanh bổ xứ Bồ tát ăn thực phẩm của ta rồi thì đều ngồi cội Bồ đề hàng phục ma quân thành Ðẳng Chánh Giác. Như phương đông, chín phương kia cũng đều như vậy.

Nầy thiện nam tử! Ngươi thấy mười ngàn đồng nữ đây chăng? Ðây là những bực thượng thủ, tất cả quyến thuộc có đến trăm vạn a tăng kỳ đồng nữ, đều cùng ta đồng hạnh, đồng nguyện, đồng thiện căn, đồng một đạo xuất ly, đồng thanh tịnh giải, đồng thanh tịnh niệm, đồng thanh tịnh chỗ đến, đồng vô lượng giác, đồng được thiện căn, đồng tâm quảng đại, đồng cảnh sở hành, đồng lý, đồng nghĩa, đồng minh liễu pháp, đồng tịnh sắc tướng, đồng vô lượng lực, đồng tối tinh tấn, đồng chánh pháp âm, đồng tùy loại âm, đồng thanh tịnh đệ nhứt âm, đồng tán dương vô lượng công đức thanh tịnh, đồng nghiệp thanh tịnh, đồng báo thanh tịnh, đồng đại từ cứu hộ khắp tất cả, đồng đại bi khắp thành thục chúng sanh, đồng thân nghiệp thanh tịnh tùy duyên tập khởi làm cho người thấy vui mừng, đồng khẩu nghiệp thanh tịnh tùy theo ngữ ngôn thế gian mà tuyên bố pháp hóa, đồng qua đạo tràng chúng hội của tất cả chư Phật, đồng đến tất cả Phật độ cúng dường chư Phật, đồng có thể hiện thấy tất cả pháp môn, đồng trụ Bồ tát thanh tịnh hạnh địa.

Nầy thiện nam tử! Mười ngàn đồng nữ nầy có thể ở nơi cái bát nhỏ đây lấy thượng vị ẩm thực trong khoảng một sát na, đến khắp mười phương cúng dường tất cả thân sau cùng của Bồ tát, Thanh văn, Ðộc giác. Nhẫn đến bố thí các loài ngạ quỷ đều khiến no đủ.

Mười ngàn đồng nữ nầy đem cái bát của ta đây có thể ở trong cõi trời đầy đủ thực phẩm cõi trời, nhẫn đến ở nhơn gian đầy đủ thực phẩm loài người.

Nầy thiện nam tử! Chờ giây lát ngươi sẽ tự thấy.

Cụ Túc ưu bà di nói xong, có vô lượng chúng sanh từ bốn cửa vào nhà. Ðại chúng nầy đều do bổn nguyện của ưu bà di mời đến. Khi đại chúng đã đến xong, ưu bà di trải tòa cho ngồi, tùy theo chỗ cần dùng của họ mà cấp thí đồ uống ăn đều khiến no đủ cả. Cụ Túc ưu bà di bảo Thiện Tài:

Nầy thiện nam tử! Ta chỉ biết môn giải thoát Vô tận phước đức tạng nầy. Như chư đại Bồ tát, tất cả công đức dường như đại hải rất sâu vô tận, dường như hư không rộng lớn vô tế, dường như châu như ý thỏa mãn nguyện vọng của chúng sanh, như tụ lạc lớn cầu chi cũng được, như núi Tu Di nhóm đủ các báu, như tạng sâu kín thường đựng pháp tài, như đèn sáng phá những tối tăm, như lọng cao che mát quần sanh… Như thế ta làm sao biết được nói được công đức hạnh đó.

Nầy thiện nam tử! Phương nam đây có một thành tên là Ðại Hưng. Trong thành có một cư sĩ tên là Minh Trí. Ngươi đến đó hỏi Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, tu Bồ tát đạo?

Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân Cụ Túc ưu bà di, hữu nhiễu vô lượng vòng, chiêm ngưỡng không nhàm từ tạ mà đi.

Bấy giờ, Thiện Tài đã được Vô tận trang nghiêm phước đức tạng giải thoát môn, suy gẫm phước đức đại hải đó, quán sát phước đức hư không đó, đến nhóm phước đức đó, lên núi phước đức đó, nhiếp tạng phước đức đó, vào vực sâu phước đức đó, lội ao phước đức đó, tịnh xe phước đức đó, thấy kho phước đó, vào cửa phước đức đó, đi đường phước đức đó, tu giống phước đức đó.

Thiện Tài đi lần đến thành Ðại Hưng tìm cư sĩ Minh Trí. Với thiện tri thức lòng rất khát ngưỡng. Ðem thiện tri thức huân tập tâm mình. Nơi thiện tri thức chí muốn kiên cố. Phương tiện tìm thấy thiện tri thức lòng chẳng thối chuyển. Nguyện được phụng thờ chư thiện tri thức tâm không mỏi lười. Vì biết do y chỉ thiện tri thức mà được thành mãn các pháp lành. Vì biết do y chỉ thiện tri thức nên có thể sanh những phước đức. Vì biết do y chỉ thiện tri thức nên có thể thêm lớn công hạnh. Vì biết do y chỉ thiện tri thức nên chẳng do người khác dạy mà tự mình có thể thờ kính tất cả thiện hữu.

Lúc Thiện Tài tư duy như vậy, được thêm lớn thiện căn, thanh tịnh thâm tâm, thêm căn tánh, lợi đức bổn, thêm đại nguyện, rộng đại bi, gần Nhứt thiết trí, đủ đạo Phổ Hiền, chiếu sáng tất cả chánh pháp của chư Phật. Thêm lớn thập lực quang minh của chư Phật.

Thiện Tài thấy cư sĩ Minh Trí tại ngã tư đường chợ, trên đài thất bửu, ngồi tòa vô số bửu trang nghiêm. Tòa đó diệu hảo bằng thanh tịnh ma ni, chân tòa bằng kim cang đế thanh, dây báu giao xen, nghiêm sức với năm trăm diệu bửu; trải bửu y cõi trời, dựng tràng phan cõi trời, giăng lưới đại bửu. Thiết trướng đại bửu, vàng diêm phù đàn làm lọng, tỳ lưu ly bửu làm cán, bảo người cầm che. Lông cánh nga vương thanh tịnh sạch đẹp dùng làm quạt. Xông những diệu hương. Mưa những Thiên hoa. Hai bên năm trăm tiếng nhạc thường hòa tấu. Tiếng nhạc hay hơn nhạc cõi trời. Chúng sanh nghe tiếng nhạc nầy đều vui đẹp. Quyến thuộc có mười ngàn người vây quanh sau trước, hình sắc đoan nghiêm, người thấy được vui mừng; nghiêm sức với đồ trang nghiêm cõi trời, ở trong nhơn Thiên tối thắng vô tỷ. Tất cả đều đã thành tựu chí nguyện Bồ tát. Ðều cùng với cư sĩ Minh Trí đồng thiện căn thuở xưa. Tất cả đều đứng hầu tuân lời sai khiến.

Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân cư sĩ, hữu nhiễu vô lượng vòng, chắp tay cung kính thưa rằng:

Bạch đức Thánh! Tôi vì lợi ích tất cả chúng sanh. Vì làm cho tất cả chúng sanh khỏi những nạn khổ. Vì làm cho tất cả chúng sanh được rốt ráo an vui. Vì làm cho tất cả chúng sanh ra khỏi biển sanh tử. Vì làm cho tất cả chúng sanh ở cõi nước pháp bửu. Vì làm cho tất cả chúng sanh khô cạn sông ái dục. Vì làm cho tất cả chúng sanh khởi đại từ bi. Vì làm cho tất cả chúng sanh bỏ lìa ái dục. Vì làm cho tất cả chúng sanh khát ngưỡng Phật trí. Vì làm cho tất cả chúng sanh ra khỏi đồng hoang sanh tử. Vì làm cho tất cả chúng sanh thích công đức của chư Phật. Vì làm cho tất cả chúng sanh ra khỏi thành tam giới. Vì làm cho tất cả chúng sanh nhập thành Nhứt thiết trí. Nên tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề, mà chưa biết Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, tu Bồ tát đạo, để có thể làm chỗ y chỉ cho tất cả chúng sanh.

Cư sĩ Minh Trí bảo rằng:

Lành thay! Lành thay! Nầy thiện nam tử! Ngươi có thể phát được tâm Vô thượng Bồ đề.

Nầy thiện nam tử! Rất khó có người phát được tâm Vô thượng Bồ đề. Nếu có thể phát tâm ấy thì người đó có thể cầu Bồ tát hạnh, gặp gỡ thiện tri thức hằng chẳng nhàm đủ. Gần gũi thiện tri thức hằng không mỏi nhọc. Cúng dường thiện tri thức hằng không biếng lười. Cung cấp hầu hạ thiện tri thức chẳng có lòng ưu sầu. Tìm cầu thiện tri thức trọn chẳng thối chuyển. Mến nhớ thiện tri thức trọn chẳng buông bỏ. Phụng thờ thiện tri thức không tạm thôi nghỉ. Chiêm ngưỡng thiện tri thức không lúc nào ngừng ngớt. Thực hành lời dạy của thiện tri thức chưa từng lười biếng. Bẩm thọ tâm của thiện tri thức không có sai lầm.

Nầy thiện nam tử! Ngươi xem đại chúng của ta đây. Ta đã khiến họ phát tâm Vô thượng Bồ đề, sanh nhà Như Lai, thêm lớn pháp lành, an trụ vô lượng ba la mật, học Phật thập lực, rời giống thế gian mà trụ giống Như Lai, bỏ sanh tử luân mà chuyển chánh pháp luân, diệt tam ác thú mà trụ chánh pháp thú, đều có thể cứu hộ tất cả chúng sanh như chư Bồ tát.

Nầy thiện nam tử! Ta được môn giải thoát Tùy ý xuất sanh phước đức tạng. Phàm chỗ cần dùng đều thỏa mãn cả. Như là y phục, anh lạc, voi ngựa, xe cộ, hoa hương, tràng phan, bửu cái, ẩm thực, thuốc thang, nhà phòng, giường ghế, đèn đuốc, nô tỳ, trâu, dê và những người hầu hạ, tất cả đều đầy đủ mỗi khi cần đến, nhẫn đến vì nói diệu pháp chơn thiệt.

Nầy thiện nam tử! Chờ trong giây lát ngươi sẽ tự thấy.

Cư sĩ nói xong, có vô lượng chúng sanh từ các phương, các thế giới, các quốc độ, các thành ấp, hình loại khác nhau, chỗ mến thích chẳng đồng, số đông vô biên đều do Bồ tát nguyện lực thuở xưa, đều vân tập đến, đều riêng có chỗ mong muốn mà cầu xin.

Bấy giờ, cư sĩ Minh Trí biết đại chúng đã
đông đủ, nhiếp niệm giây lát ngước mặt ngó lên hư không. Liền đó, theo chỗ cần dùng của đại chúng mọi đồ cần dùng đều từ trên không rơi xuống, làm cho tất cả đại chúng đều được đầy đủ theo ý muốn.

Sau đó cư sĩ lại vì họ mà thuyết pháp. Vì những người được món ăn ngon no đủ mà nói những hạnh chứa phước đức, hạnh lìa nghèo cùng, hạnh biết các pháp, hạnh thành tựu món ăn pháp hỷ thiền duyệt, hạnh tu tập đầy đủ các tướng hảo, hạnh tăng trưởng thành tựu khó khuất phục, hạnh có thể khéo rõ thấu món ăn vô thượng, hạnh thành tựu vô tận đại oai đức lực hàng phục ma oán.

Cư sĩ vì những kẻ được thức uống ngon no đủ mà thuyết pháp, làm cho họ bỏ lìa sự mến chấp sanh tử để nhập Phật pháp vị. Cư sĩ vì những người được vị vô thượng mà thuyết pháp, làm cho họ đều được tướng thượng hảo của chư Phật Như Lai. Cư sĩ vì những kẻ được xe cộ đầy đủ mà thuyết pháp, làm cho họ đều được ngồi xe Đại thừa. Cư sĩ vì những người được y phục thỏa mãn mà thuyết pháp, làm cho họ được y phục tàm quý thanh tịnh, nhẫn đến được diệu sắc thanh tịnh của Như Lai. Cư sĩ đều chăm sóc hoàn bị tất cả đại chúng, mọi người nghe pháp xong đều trở về bổn xứ. Cư sĩ Minh Trí vì Thiện Tài đồng tử mà hiển bày cảnh giới Bồ tát bất tư nghì giải thoát rồi bảo rằng:

Nầy thiện nam tử! Ta chỉ biết môn giải thoát Tùy ý xuất sanh phước đức tạng nầy. Như chư đại Bồ tát thành tựu cánh tay báu trùm khắp tất cả quốc độ mười phương, dùng sức tự tại mưa khắp tất cả đồ cần dùng. Như là mưa các thứ báu nhiều màu, anh lạc nhiều màu, mão báu nhiều màu, y phục nhiều màu, âm nhạc nhiều màu, hoa nhiều màu, hương nhiều màu, hương bột nhiều màu, hương đốt nhiều màu, lọng báu nhiều màu, tràng phan nhiều màu. Mưa các thứ như vậy đầy khắp tất cả chỗ ở của chúng sanh và chúng hội đạo tràng của chư Như Lai. Hoặc để thành thục tất cả chúng sanh, hoặc để cúng dường tất cả chư Phật… Như vậy ta làm sao biết được, nói được những công đức tự tại thần lực đó.

Nầy thiện nam tử! Phương nam đây có một thành lớn tên là Sư Tử Cung. Nơi đó có một trưởng giả tên là Pháp Bửu Kế. Ngươi nên đến đó hỏi Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, tu Bồ tát đạo?

Thiện Tài đồng tử vui mừng hớn hở, cung kính tôn trọng giữ lễ đệ tử đối với cư sĩ. Tự nghĩ rằng: Do cư sĩ nầy hộ niệm cho tôi, khiến tôi được thấy đạo Nhứt thiết trí, chẳng dứt sự thương nhớ, được thấy thiện tri thức, chẳng hoại tâm tôn trọng thiện tri thức, thường hay tùy thuận lời dạy của thiện tri thức, quyết định tin sâu lời nói của thiện tri thức, hằng phát thâm tâm thờ thiện tri thức.

Thiện Tài đảnh lễ nơi chân cư sĩ Minh Trí, hữu nhiễu vô lượng vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.

*Thiện Tài đồng tử ở chỗ Minh Trí cư sĩ được nghe môn giải thoát nầy rồi thì du hành biển phước đức đó, sửa sang ruộng phước đức đó, ngưỡng vọng núi phước đức đó, xu hướng bến phước đức đó, khai phát tạng phước đức đó, quán sát pháp phước đức đó, thanh tịnh xe phước đức đó, nếm được vị của nhóm phước đức đó, phát sanh sức phước đức đó, thêm thế lực phước đức đó.

Thiện Tài đi lần đến thành Sư Tử tìm trưởng giả Bửu Kế, thấy trưởng giả nầy ở trong chợ. Thiện Tài vội đến đảnh lễ nơi chân trưởng giả, hữu nhiễu vô số vòng, chắp tay cung kính thưa rằng:

Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề mà chưa biết Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, tu Bồ tát đạo? Lành thay đức Thánh! Xin vì tôi mà giảng nói các Bồ tát đạo. Ðể tôi thừa đạo nầy mà đến Nhứt thiết trí.

Lúc đó, trưởng giả cầm tay Thiện Tài dắt đến chỗ ông ở, chỉ nhà của ông mà bảo Thiện Tài xem.

Thiện Tài thấy nhà của trưởng giả thanh tịnh quang minh làm bằng chơn kim, vách bằng bạch ngân, điện bằng pha lê, lưu ly bửu màu biếc dùng làm lầu gác, trụ bằng xa cừ diệu bửu, khắp nơi trang nghiêm với trăm ngàn diệu bửu, sư tử tòa bằng xích châu ma ni. Màn ma ni và lưới chơn châu giăng phía trên. Ao bằng mã não bửu đầy nước thơm. Vô lượng cây báu bày hàng khắp nơi.

Nhà đó rộng rãi mười từng, tám cửa. Khi đã vào nhà, Thiện Tài theo thứ đệ mà quán sát. Thấy từng dưới hết thí những đồ uống ăn. Thấy từng thứ hai thí những bửu y. Thấy từng thứ ba bố thí tất cả đồ báu trang nghiêm. Thấy từng thứ tư thí những thể nữ và tất cả trân bửu thượng diệu. Thấy từng thứ năm có chư Bồ tát, nhẫn đến Ngũ địa Bồ tát vân tập, diễn nói các pháp lợi ích chúng sanh, thành tựu tất cả đà la ni môn, các tam muội ấn, các tam muội hạnh, trí huệ quang minh. Thấy từng thứ sáu có chư Bồ tát đều đã thành tựu trí huệ thậm thâm, minh liễu thông đạt nơi pháp tánh thành tựu môn Tổng trì tam muội quảng đại không chướng ngại, chỗ làm vô ngại chẳng trụ hai pháp. Ở trong bất khả thuyết diệu trang nghiêm đạo tràng mà cùng tập hội phân biệt hiển thị môn
Bát nhã ba la mật:

Những là môn Bát nhã ba la mật tịch tịnh tạng. Môn Bát nhã ba la mật khéo phân biệt trí của các chúng sanh. Môn Bát nhã ba la mật chẳng thể động chuyển. Môn Bát nhã ba la mật ly dục quang minh. Môn Bát nhã ba la mật chẳng thể hàng phục. Môn Bát nhã ba la mật chiếu chúng sanh luân. Môn Hải tạng bát nhã ba la mật. Môn Bát nhã ba la mật phổ nhãn xả đắc. Môn Bát nhã ba la mật nhập vô tận tạng. Môn Bát nhã ba la mật nhập tất cả phương tiện hải. Môn Bát nhã ba la mật nhập tất cả thế gian hải. Môn Bát nhã ba la mật vô ngại biện tài. Môn Bát nhã ba la mật tùy thuận chúng sanh. Môn Bát nhã ba la mật vô ngại quanh minh. Môn Bát nhã ba la mật thường quán túc duyên mà bủa mây pháp… diễn thuyết trăm vạn vô số môn Bát nhã ba la mật như vậy.

Thấy từng nhà thứ bảy có chư Bồ tát được như hưởng nhẫn, dùng phương tiện trí phân biệt quán sát mà được xuất ly, đều có thể nghe và thọ trì chánh pháp của chư Phật.

Thấy từng thứ tám có vô lượng Bồ tát cùng hội họp trong đó, đều được thần thông không còn thối đọa. Có thể dùng một âm thanh khắp mười phương cõi. Thân của các Ngài hiện khắp tất cả đạo tràng, cùng khắp pháp giới. Vào khắp Phật cảnh, thấy khắp thân Phật. Ở trong tất cả Phật chúng hội mà làm thượng thủ, diễn thuyết các pháp.

Thấy từng lầu thứ chín chư Bồ tát Nhứt sanh bổ xứ tập hội trong đó.

Thấy từng lầu thứ mười, chư Phật Như Lai ngự đầy trong đó. Từ sơ phát tâm tu Bồ tát hạnh siêu xuất sanh tử, thành mãn đại nguyện và thần thông lực, tịnh Phật độ và đạo tràng chúng hội, chuyển chánh pháp luân điều phục chúng sanh. Ðều làm cho được thấy rõ tất cả như vậy.

Thiện Tài thấy sự như vậy rồi, bạch rằng:

Bạch đức Thánh! Do duyên gì mà thành chúng hội thanh tịnh nầy? Gieo căn lành gì mà được báo như vậy?

Trưởng giả nói:

Nầy thiện nam tử! Ta nhớ thuở quá khứ, quá Phật sát vi trần số kiếp, có thế giới tên là Viên Mãn Trang Nghiêm. Phật hiệu là Vô Biên Quang Minh Pháp Giới Phổ Trang Nghiêm Vương Như Lai, đầy đủ mười hiệu. Ðức Phật đó vào thành, ta tấu nhạc và đốt một nén hương cúng dường. Ta đem công đức ấy hồi hướng ba chỗ: Xa lìa tất cả nghèo cùng khốn khổ, thường thấy chư Phật và thiện tri thức, hằng nghe chánh pháp. Do nhơn duyên đó mà được báo nầy.

Nầy thiện nam tử! Ta chỉ biết môn Giải thoát Bồ tát vô lượng phước đức bửu tạng nầy. Như chư đại Bồ tát được bất tư nghì công đức bửu tạng, nhập vô phân biệt Như Lai thân hải, thọ vô phân biệt vô thượng pháp vân, tu vô phân biệt công đức đạo cụ, khởi vô phân biệt Phổ Hiền hạnh võng, nhập vô phân biệt tam muội cảnh giới, đồng vô phân biệt Bồ tát thiện căn, trụ vô phân biệt sở trụ của Như Lai, chứng vô phân biệt tam thế bình đẳng, trụ vô phân biệt phổ nhãn cảnh giới, trụ tất cả kiếp không có mỏi nhàm. Ta làm sao biết được, nói được công đức hạnh đó.

Nầy thiện nam tử! Phướng nam đây có một nước tên là Ðằng Căn. Nước đó có thành tên là Phổ Môn. Trong thành có một trưởng giả tên là Phổ Nhãn. Ngươi đến đó hỏi Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, tu Bồ tát đạo?

Thiện Tài đồng tử đảnh lễ nơi chân của trưởng giả Pháp Bửu Kế, hữu nhiễu vô lượng vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.

Lúc đó, Thiện Tài được nghe môn Giải thoát Bồ tát vô lượng phước đức bửu tạng nơi Bửu Kế trưởng giả rồi, được thâm nhập vô lượng tri kiến của chư Phật, an trụ vô lượng thắng hạnh của Bồ tát, thấu rõ vô lượng phương tiện của Bồ tát, mong cầu vô lượng pháp môn của Bồ tát, thanh tịnh vô lượng tín giải của Bồ tát, minh lợi vô lượng căn của Bồ tát, thành tựu vô lượng dục lạc của Bồ tát, thông đạt vô lượng hạnh môn của Bồ tát, tăng trưởng vô lượng nguyện lực của Bồ tát, kiến lập tràng vô năng thắng của Bồ tát, khởi trí Bồ tát, chiếu pháp Bồ tát.

Thiện Tài đi lần đến nước Ðằng Căn, tìm hỏi thành Phổ Môn. Dầu trải qua nhiều gian lao nhưng chẳng nệ nhọc, chỉ nhớ lời dạy của thiện tri thức, nguyện thường được thân cận để phụng thờ cúng dường, sách tấn chư căn lìa những phóng dật. Sau đó Thiện Tài đến thành Phổ Môn, thấy trăm ngàn tụ lạc bao vây chung quanh. Tường thành cao nghiêm, đường xá rộng bằng. Thiện Tài vào thành tìm gặp Phổ Nhãn trưởng giả, liền đảnh lễ nơi chân trưởng giả, hữu nhiễu vô lượng vòng, chắp tay cung kính thưa rằng:

Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề, mà chưa biết Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo?

Trưởng giả nói:

Nầy thiện nam tử! Lành thay! Lành thay! Ngươi đã có thể phát tâm Vô thượng Bồ đề.

Nầy thiện nam tử! Ta biết tất cả bịnh của các chúng sanh. Những bịnh phong, đàm, nóng, cổ độc, quỷ mỵ dựa, nhẫn đến bị nước, bị lửa thương hại, ta đều có thể dùng phương tiện chữa lành cả.

Nầy thiện nam tử! Mười phương chúng sanh, những kẻ có bịnh đến ta, ta đều chữa trị cho họ được lành mạnh. Lại lấy nước thơm tắm rửa thân thể họ. Lại ban cho họ những hương hoa, anh lạc, y phục đẹp, những đồ trang sức, đồ ăn thức uống và những vàng bạc, tất cả đều đầy đủ không ai thiếu thốn. Rồi sau mới vì họ mà tùy cơ nghi thuyết pháp. Vì người tham dục nhiều dạy họ quán bất tịnh. Vì người sân hận nhiều dạy họ quán từ bi. Vì người ngu si nhiều dạy họ phân biệt các pháp tướng. Vì người đẳng phần phiền não dạy họ pháp môn thù thắng. Vì muốn cho họ phát Bồ đề tâm, nên xưng dương công đức của tất cả chư Phật. Vì muốn cho họ khởi lòng đại bi, nên hiển thị sanh tử vô lượng khổ não. Vì muốn cho họ tăng trưởng công đức, nên tán thán tu tập vô lượng phước trí. Vì muốn cho họ phát đại nguyện nên xưng tán công hạnh điều phục chúng sanh. Vì muốn cho họ tu Phổ Hiền hạnh, nên nói Bồ tát ở tất cả cõi trong tất cả kiếp tu những công hạnh. Vì muốn cho họ đủ tướng hảo của Phật, nên tán dương đàn ba la mật. Vì muốn cho họ được tịnh thân của Phật có thể đến khắp tất cả xứ, nên tán dương thi ba la mật. Vì muốn cho họ được thân thanh tịnh bất tư nghì của Phật, nên tán dương nhẫn ba la mật. Vì muốn cho họ được thân vô năng thắng của Phật, nên tán dương tinh tấn ba la mật. Vì muốn cho họ được thân thanh tịnh vô đẳng, nên tán dương thiền ba la mật. Vì muốn cho họ hiển hiện Như Lai thanh tịnh pháp thân, nên tán dương bát nhã ba la mật. Vì muốn cho họ hiện Phật thanh tịnh sắc thân, nên tán dương phương tiện ba la mật. Vì muốn cho họ hiện thân thanh tịnh quá tất cả Phật độ, nên tán dương lực ba la mật. Vì muốn cho họ hiện thanh tịnh thân tùy tâm chúng sanh làm cho họ hoan hỷ, nên tán dương trí ba la mật. Vì muốn cho họ thân rốt ráo thanh tịnh vi diệu nên tán dương lìa hẳn tất cả pháp bất thiện. Bố thí như vậy rồi, đều bảo họ trở về.

Nầy thiện nam tử! Ta lại khéo biết phương pháp hòa hiệp tất cả thứ hương. Những là vô đẳng hương, tân đầu ba la hương, vô thắng hương, giác ngộ hương, a lô na bạt để hương, kiên hắc chiên đàn hương, ô lạc ca chiên đàn hương, trầm thủy hương, bất động chư căn hương.

Nầy thiện nam tử! Ta cầm hương nầy để cúng dường, thấy khắp chư Phật, thỏa mãn bổn nguyện. Những là nguyện cứu hộ tất cả chúng sanh, nguyện nghiêm tịnh tất cả cõi Phật, nguyện cúng dường tất cả Như Lai.

Nầy thiện nam tử! Lúc đốt thứ hương nầy, trong mỗi mỗi hương phát ra vô lượng hương, khắp đến mười phương tất cả pháp giới tất cả chư Phật chúng hội đạo tràng, hoặc làm hương cung, hoặc làm hương điện, hương lan can, hương tường rào, hương hào thành, hương cửa nẻo, hương lầu gác, hương bán nguyệt, hương lọng, hương tràng, hương phan, hương trướng, hương màn lưới, hương hình tượng, hương đồ trang nghiêm, hương quang minh, hương vân vũ, xứ xứ sung mãn để làm trang nghiêm.

Nầy thiện nam tử! Ta chỉ biết pháp môn làm cho tất cả chúng sanh thấy chư Phật hoan hỷ. Như chư đại Bồ tát, như đại dược vương, hoặc thấy, hoặc nghe, hoặc ghi nhớ, hoặc đồng ở, hoặc đi theo, hoặc xưng danh hiệu đều được lợi ích không luống uổng. Nếu có chúng sanh tạm được gặp gỡ chư đại Bồ tát tất làm cho tiêu diệt tất cả phiền não, vào Phật pháp, lìa khổ uẩn, dứt hẳn sự kinh sợ về sanh tử, đến chỗ Nhứt thiết trí vô sở úy, xô dẹp tất cả núi lớn sanh tử, an trụ nơi chỗ vui bình đẳng tịch diệt… Ta thế nào biết được nói được hạnh công đức đó.

Nầy thiện nam tử! Phương nam đây có một thành lớn tên là Ða La Tràng, có vua tên là Vô Yểm Túc. Ngươi đến đó hỏi Bồ tát thế nào học
Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo?

Thiện Tài đồng tử đảnh lễ nơi chân trưởng giả Phổ Nhãn, hữu nhiễu vô lượng vòng, ân cần chiêm ngưỡng, từ tạ mà đi.

Lúc đó, Thiện Tài đồng tử ức niệm tư duy lời dạy của thiện tri thức. Nghĩ rằng thiện tri thức có thể nhiếp thọ tôi, có thể thủ hộ tôi, làm cho tôi không thối chuyển nơi Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Tư duy như vậy sanh tâm hoan hỷ, tâm tịnh tín, tâm quảng đại, tâm thơ thới, tâm hớn hở, tâm mừng rỡ, tâm thắng diệu, tâm tịch tịnh, tâm trang nghiêm, tâm vô trước, tâm vô ngại, tâm bình đẳng, tâm tự tại, tâm trụ pháp, tâm ở khắp cõi Phật, tâm thấy Phật trang nghiêm, tâm chẳng bỏ thập lực.

Thiện Tài đi lần đến thành Ða La Tràng hỏi thăm chỗ ở của vua Vô Yểm Túc. Mọi người bảo rằng nhà vua hiện ở chánh điện, ngồi tòa sư tử, tuyên bố pháp hóa điều ngự chúng sanh. Kẻ đáng trị tội thì trị, kẻ đáng phạt thì phạt, kẻ đáng nhiếp thì nhiếp. Phạt tội ác của họ, giải quyết sự tranh tụng của họ. Thương người cô cùng yếu đuối. Ðều làm cho nhơn dân dứt hẳn sự giết hại, trộm cướp, tà dâm. Cũng làm cho họ bỏ sự nói dối, nói thô ác, nói ly gián, nói thêu dệt. Lại làm cho họ xa lìa tham lam, sân hận, tà kiến.

Thiện Tài theo chỗ chỉ dẫn của mọi người mà đến chánh điện. Thấy nhà vua ngự tòa na la diên kim cang. Tòa nầy chân bằng vô số thứ báu, vô lượng hình tượng để trang nghiêm, dây vàng làm lưới giăng phía trên. Nhà vua đầu đội bửu quan như ý ma ni. Vàng diêm phù đàn làm hình bán nguyệt để trang nghiêm nơi trán. Ðế thanh ma ni làm vòng tai hai bên đối nhau thòng xuống. Ma ni vô giá làm chuỗi đeo nơi cổ. Ma ni đẹp cõi trời làm ấn xuyến mang nơi cánh tay. Vàng diêm phù đàn làm lọng. Các báu xen lẫn dùng làm vành cọng. Cán bằng đại lưu ly bửu. Quang vị ma ni dùng làm núm. Các báu làm linh, hằng vang tiếng diệu. Phóng đại quang minh chiếu khắp mười phương. Lọng báu trên đây che cho nhà vua.

Vô Yểm Túc vương có thế lực lớn có thể làm khuất phục chúng khác, không ai địch lại. Lấy lụa ly cấu vấn trên đảnh. Mười ngàn đại thần cùng xử lý quốc sự. Trước mặt nhà vua, hai bên có mười vạn lính mạnh, hình ác, y phục xấu, tay cầm binh khí, xăn tay trợn mắt. Ai ngó thấy cũng phải kinh sợ.

Những chúng sanh phạm pháp: Hoặc trộm vật của người, hoặc hại mạng người, hoặc xâm vợ người, hoặc sanh tà kiến, hoặc khởi sân hận, hoặc tham lam tật đố, thân bị ngũ phược dắt đến chỗ vua, tùy theo chỗ họ phạm mà trị tội: hoặc chặt tay chân, hoặc cắt tai mũi, hoặc khoét đôi mắt, hoặc chém đầu, hoặc lột da, hoặc phân thây, hoặc đem nấu, hoặc đem đốt, hoặc dắt lên núi cao xô té xuống… Vô lượng sự hành hình độc ác như vậy tiếng phạm nhơn kêu khóc dường như trong địa ngục chúng hiệp.

Thấy thế, Thiện Tài nghĩ rằng: Tôi vì lợi ích chúng sanh mà cầu Bồ tát hạnh, tu Bồ tát đạo. Nay nhà vua Vô Yểm Túc nầy diệt pháp lành, tạo đại tội, bức não chúng sanh, nhẫn đến giết chết, không sợ bị đọa ác đạo sau nầy. Sao tôi lại muốn ở nhà vua nầy mà cầu chánh pháp, phát tâm đại bi cứu hộ chúng sanh.

Lúc Thiện Tài nghĩ như vậy, trên hư không có trời bảo rằng:

Nầy thiện nam tử! Ngươi phải ghi nhớ lời dạy của Phổ Nhãn trưởng giả.

Thiện Tài ngửa mặt nói:

Tôi luôn ghi nhớ không hề tạm quên.

Trời bảo:

Thiện nam tử chớ nhàm lìa lời của thiện tri thức. Thiện tri thức có thể dắt dẫn ngươi đến chỗ an ổn không hiểm nạn.

Nầy thiện nam tử! Bồ tát thiện xảo phương tiện trí chẳng thể nghĩ bàn, nhiếp thọ chúng sanh trí chẳng thể nghĩ bàn, hộ niệm chúng sanh trí chẳng thể nghĩ bàn, thành tựu chúng sanh trí chẳng thể nghĩ bàn, thủ hộ chúng sanh trí chẳng thể nghĩ bàn, độ thoát chúng sanh trí chẳng thể nghĩ bàn, điều phục chúng sanh trí chẳng thể nghĩ bàn.

Thiện Tài nghe xong liền đến đảnh lễ nơi chân vua Vô Yểm Túc tâu rằng:

Bạch đại Thánh! Tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề mà chưa biết Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo? Tôi nghe đức Thánh khéo dạy bảo, xin vì tôi mà giảng nói.

Vua Vô Yểm Túc xử lý quốc sự xong, cầm tay Thiện Tài dắt vào nội cung bảo cùng ngồi, nói rằng:

Nầy thiện nam tử! Ngươi quán sát cung điện của ta ở đây.

Tuân lời nhà vua, Thiện Tài quán sát khắp cung. Thấy cung điện nầy rộng lớn vô tỷ, đều làm bằng diệu bửu. Tường rào bao quanh bằng thất bửu, trăm ngàn thứ báu xây các lâu các, tất cả sự trang nghiêm đều diệu hảo. Màn lưới bất tư nghì ma ni giăng che phía trên. Mười ức thị nữ đoan trang xinh đẹp khả ái. Phàm chỗ làm đều xảo diệu, lúc dậy, lúc nằm đều thừa thuận ý nhà vua.

Vua Vô Yểm Túc bảo Thiện Tài:

Nầy thiện nam tử! Nếu ta thiệt gây ác nghiệp thì sao lại được quả báo tốt đẹp nầy, sắc thân như đây, quyến thuộc như vậy, giàu sang như vậy, tự tại như vậy?

Nầy thiện nam tử! Ta được Bồ tát như huyễn giải thoát.

Nầy thiện nam tử! Nước của ta, dân chúng nhiều người làm việc trộm cướp giết hại, nhẫn đến tà kiến. Dùng phương tiện khác không thể làm cho họ bỏ ác nghiệp.

Nầy thiện nam tử! Ta vì điều phục chúng sanh đó mà hóa hiện những người ác tạo tội nghiệp bị hành hình khốn khổ. Làm cho những dân chúng làm ác nghe thấy mà kinh sợ chừa ác làm lành phát tâm Bồ đề.

Nầy thiện nam tử! Ta dùng phương tiện thiện xảo như vậy làm cho dân chúng bỏ mười ác nghiệp mà an trụ nơi mười hạnh lành, rốt ráo khoái lạc, rốt ráo an ổn, rốt ráo trụ ở bực Nhứt thiết trí.

Nầy thiện nam tử! Thân, ngữ, ý của ta chưa
từng não hại đến một chúng sanh. Như tâm ý của ta, thà ở vị lai chịu vô gián khổ, chớ trọn không móng một niệm làm khổ cho một con muỗi, con kiến, huống lại làm khổ người. Vì người là phước điền có thể sanh tất cả những pháp lành.

Nầy thiện nam tử! Ta chỉ được môn Như huyễn giải thoát nầy. Như chư đại Bồ tát được Vô sanh nhẫn biết những loài hữu lậu đều như huyễn. Những hạnh Bồ tát như hóa. Tất cả thế gian đều như bóng. Tất cả pháp đều như mộng. Nhập chơn như tướng vô ngại pháp môn. Tu hành đế võng tất cả công hạnh. Dùng trí vô ngại đi trong các cảnh giới. Nhập khắp tất cả bình đẳng tam muội. Nơi đà la ni đã được tự tại… Mà ta làm sao nói được biết được công đức hạnh đó.

Nầy thiện nam tử! Phương nam đây có thành tên là Diệu Quang. Nhà vua tên là Ðại Quang. Ngươi qua đó hỏi Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, tu Bồ tát đạo?

Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân vua Vô Yểm Túc, hữu nhiễu vô số vòng, từ tạ mà đi.

Bấy giờ, Thiện Tài nhứt tâm chánh niệm pháp môn Như huyễn trí của nhà vua. Tư duy như huyễn giải thoát của nhà vua. Quán sát pháp tánh như huyễn của nhà vua. Phát như huyễn nguyện. Tịnh như huyễn pháp. Khắp ở tất cả tam thế như huyễn mà khởi những biến hóa như huyễn.

Tư duy như vậy, Thiện Tài đi lần qua phương nam, hoặc đến thành ấp tụ lạc, hoặc đi qua đồng hoang, hang hố hiểm nạn, vẫn không mỏi lười, chưa từng ngơi nghỉ. Sau đó mới đến thành Diệu Quang, hỏi người rằng thành Diệu Quang ở tại đâu.

Người ấy đáp chính đây là thành Diệu Quang, là chỗ ngự của vua Ðại Quang.

Thiện Tài đồng tử hoan hỷ vô lượng nghĩ rằng: Thiện tri thức của tôi ở trong thành nầy. Nay tôi chắc sẽ được thân cận, được nghe công hạnh của chư Bồ tát, được nghe môn xuất yếu của chư Bồ tát, được nghe pháp của chư Bồ tát đã chứng, được nghe công đức bất tư nghì của chư Bồ tát, được nghe bất tư nghì tự tại của chư Bồ tát, được nghe bình đẳng bất tư nghì của chư Bồ tát, được nghe dũng mãnh bất tư nghì của chư Bồ tát, được nghe cảnh giới quảng đại thanh tịnh bất tư nghì của chư Bồ tát.

Thiện Tài nghĩ như vậy rồi nhập Diệu Quang thành. Thấy thành nầy xây bằng thất bửu: kim, ngân, lưu ly, pha lê, trân châu, xa cừ, mã não. Hào sâu bằng thất bửu bảy lớp bao quanh, nước bát công đức đầy trong đó; đáy trải cát chơn kim, hoa sen bốn màu xanh, vàng, đỏ, trắng nở đầy mặt nước. Cây đa la báu bảy lớp thẳng hàng. Bảy thứ kim cang làm tường rào bao quanh. Những là tường bằng sư tử quang minh kim cang. Tường rào bằng vô năng siêu thắng kim cang. Tường rào bằng bất khả trở hoại kim cang. Tường rào bằng bất khả hủy khuyết kim cang. Tường rào bằng kiên cố vô ngại kim cang. Tường rào bằng thắng diệu võng tạng kim cang. Tường rao bằng ly trần thanh tịnh kim cang. Tất cả đều dùng vô số ma ni diệu bửu xen lẫn trang nghiêm. Các thứ báu xây thành tháp gác.

Thành đó ngang rộng mười do tuần, có tám cửa đều dùng bảy báu nghiêm sức khắp nơi. Ðất bằng tỳ lưu ly bửu, nhiều thứ trang nghiêm rất đáng mến thích.

Trong thành có mười ức đường xá. Mỗi hai bên đường đều có vô lượng nhơn dân ở. Có vô số lầu gác bằng vàng diêm phù đàn, lưới tỳ lưu ly ma ni che phía trên. Vô số lầu gác bằng bạch ngân, lưới xích chơn châu ma ni giăng phía trên. Vô số lầu gác bằng tỳ lưu ly, lưới diệu tạng ma ni giăng phía trên. Vô số lầu gác bằng pha lê, lưới vô cấu tạng ma ni vương giăng phía trên. Vô số lầu gác bằng quang chiếu thế gian ma ni bửu, lưới nhựt tạng ma ni vương giăng phía trên. Vô số lầu gác bằng đế thanh ma ni bửu, lưới diệu quang ma ni vương giăng phía trên. Vô số lầu gác bằng chúng sanh hải ma ni vương, lưới diệm quang ma ni vương giăng phía trên. Vô số lầu gác bằng kim cang bửu, lưới vô năng thắng tràng ma ni vương giăng phía trên. Vô số lầu gác bằng hắc chiên đàn, lưới Thiên mạn đà la hoa giăng phía trên. Vô số lầu gác bằng vô đẳng hương vương, lưới nhiều thứ hoa giăng phía trên.

Thành Diệu Quang còn có vô số lưới ma ni, vô số lưới bửu linh, vô số lưới Thiên hương, vô số lưới Thiên hoa, vô số lưới bửu hình tượng, vô số lưới bửu y trướng, vô số bửu cái trướng, vô số bửu lâu các trướng, vô số bửu hoa man trướng giăng che. Khắp nơi kiến lập bửu cái tràng phan.

Trong thành Diệu Quang có một lâu các tên là Chánh pháp tạng, trang nghiêm với vô số bửu vật, chói sáng rực rỡ không gì sánh bằng, nhìn xem không chán. Vua Ðại Quang thường ở trong lầu nầy.

Thiện Tài đồng tử đối với những vật trân bửu đẹp và các nam nữ, lục trần cảnh giới nầy đều không mến luyến. Chỉ nhứt tâm chánh niệm tư duy pháp cứu cánh. Nhứt tâm thích muốn được thấy thiện tri thức.

Thiện Tài đi lần vào thành thấy vua Ðại Quang ở giữa ngã tư đường cách lầu Chánh pháp tạng không xa ngồi trên tòa sư tử quảng đại trang nghiêm như ý ma ni bửu liên hoa tạng. Chân tòa nầy bằng lưu ly bửu màu biếc, lụa vàng làm màn, các báu làm lưới, Thiên y thượng diệu làm nệm.

Thân nhà vua có hai mươi tám tướng tốt, đủ tám mươi vẻ đẹp, như tòa núi chơn kim, màu sắc và ánh sáng rực rỡ. Như mặt nhựt trên không oai quang chói mắt. Như mặt trăng tròn làm mát mẻ người ngó thấy. Như Phạm Thiên vương ở giữa Phạm chúng. Như đại hải công đức pháp bửu không cùng tận. Như núi Tuyết nghiêm sức với rừng cây tướng hảo. Như mây lớn hay chấn pháp lôi cảnh tỉnh mọi loài. Như hư không hiển hiện những pháp môn hình ngôi sao. Như núi Tu Di bốn màu hiện khắp trong tâm hải của chúng sanh. Như bửu đảo đầy những trí bửu.

Trước tòa của vua ngự có từng khối vàng, bạc, lưu ly, ma ni, chơn châu, san hô, hổ phách, kha bối, bích ngọc, y phục, anh lạc và những đồ ăn thức uống. Lại thấy vô lượng trăm ngàn muôn ức xe báu thượng diệu, trăm ngàn muôn ức những kỹ nhạc cõi trời. Trăm ngàn muôn ức những hương thơm cõi trời. Trăm ngàn muôn ức thuốc men và đồ cần dùng. Vô lượng bò sữa, móng sừng màu chơn kim. Vô lượng ngàn ức nữ nhơn đoan chánh, chiên đàn thượng diệu thoa trên thân, trang sức với Thiên y anh lạc, đều giỏi rành sáu mươi bốn nghề, hiểu rõ thế tình, lễ phép, tùy theo tâm của chúng sanh mà cung cấp bố thí.

Bốn bên ngã tư đường đều để đầy những đồ cần dùng. Mỗi bên có hai mươi ức Bồ tát đem những vật nầy thí cho các chúng sanh. Vì muốn nhiếp khắp chúng sanh. Vì muốn cho chúng sanh hoan hỷ. Vì muốn cho chúng sanh hớn hở. Vì muốn cho chúng sanh tâm thanh tịnh. Vì muốn cho chúng sanh được thanh lương. Vì diệt trừ phiền não cho chúng sanh. Vì làm cho chúng sanh biết tất cả nghĩa lý. Vì làm cho chúng sanh nhập đạo Nhứt thiết trí. Vì làm cho chúng sanh bỏ tâm oán thù. Vì làm cho chúng sanh lìa sự ác nơi thân ngữ. Vì làm cho chúng sanh dứt các tà kiến. Vì làm cho chúng sanh tịnh các nghiệp đạo.

Thiện Tài đảnh lễ nơi chân vua Ðại Quang, hữu nhiễu vô lượng vòng chắp tay đứng tâu rằng:

Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề mà chưa biết Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, tu Bồ tát đạo? Tôi nghe đức Thánh hay khéo chỉ bảo, xin dạy cho.

Vua nói:

Nầy thiện nam tử! Ta tịnh tu Bồ tát đại từ tràng hạnh. Ta đầy đủ Bồ tát đại từ tràng hạnh.

Nầy thiện nam tử! Ta ở chỗ vô lượng trăm ngàn muôn ức, nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết đức Phật hỏi han pháp nầy, tư duy quán sát tu tập trang nghiêm.

Nầy thiện nam tử! Ta dùng pháp nầy làm vua, dùng pháp nầy dạy bảo, dùng pháp nầy nhiếp thọ, dùng pháp nầy mà ở thế gian, dùng pháp nầy dẫn đạo chúng sanh, dùng pháp nầy khiến chúng sanh tu hành, dùng pháp nầy khiến chúng sanh hướng vào, dùng pháp nầy cho chúng sanh phương tiện, dùng pháp nầy khiến chúng sanh huân tập, dùng pháp nầy khiến chúng sanh khởi hạnh, dùng pháp nầy khiến chúng sanh an trụ tư duy tự tánh của các pháp. Dùng pháp nầy khiến chúng sanh an trụ từ tâm, lấy từ làm chủ, đầy đủ từ lực. Như vậy, khiến họ an trụ tâm lợi ích, tâm an lạc, tâm ai mẫn, tâm nhiếp thọ, tâm thủ hộ chúng sanh không bỏ rời, tâm cứu chúng sanh khổ không thôi nghỉ.

Ta dùng pháp nầy làm cho chúng sanh rốt ráo khoái lạc, hằng tự vui thích, thân không khổ, tâm được mát mẻ, dứt ái nhiễm sanh tử, vui cái vui chánh pháp, rửa nhơ phiền não, phá chướng ác nghiệp, tuyệt dòng sanh tử, vào biển chơn pháp, dứt sự thọ sanh trong các cõi, cầu Nhứt thiết trí, tịnh những biển tâm, phát sanh đức tin bất hoại.

Nầy thiện nam tử! Ta đã an trụ nơi hạnh đại từ tràng nầy, có thể dùng chánh pháp giáo hóa thế gian.

Nầy thiện nam tử! Tất cả chúng sanh trong quốc độ của ta, đối với ta, thảy đều không có sự kinh sợ.

Nầy thiện nam tử! Nếu có chúng sanh nghèo cùng khốn thiếu đến ta để cầu xin, ta mở cửa kho, cho họ tha hồ mà lấy. Ta bảo họ rằng:

Chớ làm điều ác, chớ hại chúng sanh, chớ sanh tà kiến, chớ có chấp trước. Các ngươi có thiếu thốn thứ gì, cứ đến ta hoặc các ngã tư đường, có đủ tất cả vật dụng, tùy ý mà lấy khỏi phải nghi ngại.

Nầy thiện nam tử! Thành Diệu Quang nầy tất cả chúng sanh đều là Bồ tát phát tâm Đại thừa, tùy ý muốn nên chỗ thấy chẳng đồng. Hoặc có kẻ thấy thành nầy nhỏ hẹp. Có kẻ thấy thành nầy rộng lớn. Có kẻ thấy là đất cát. Có kẻ thấy là các báu trang nghiêm. Có kẻ thấy đắp đất làm tường rào. Có kẻ thấy tường bao quanh toàn bằng chất báu. Hoặc có kẻ thấy mặt đất đầy những ngói đá cao thấp. Có kẻ thấy là đại ma ni bửu xen lẫn trang nghiêm bằng phẳng. Có kẻ thấy nhà cửa bằng gỗ đất. Có kẻ thấy là điện đường, lầu gác, thềm bực, cửa nẻo đều bằng diệu bửu.

Nầy thiện nam tử! Nếu có chúng sanh, tâm họ thanh tịnh từng gieo trồng căn lành, cúng dường chư Phật, phát tâm xu hướng đạo Nhứt thiết trí, lấy Nhứt thiết trí làm chỗ cứu cánh và được ta thuở xưa, lúc tu Bồ tát hạnh, từng nhiếp thọ họ thì những chúng sanh nầy thấy thành đây bằng diệu bửu trang nghiêm. Ngoài ra, những kẻ khác lại thấy là thô xấu.

Nầy thiện nam tử! Trong quốc độ đây lúc đời ngũ trược, tất cả chúng sanh phần nhiều thích làm ác. Ta vì thương họ, muốn cứu độ họ mà nhập môn tam muội Đại từ tùy thuận thế gian. Lúc ta nhập tam muội nầy những chúng sanh làm ác kia, có những tâm bố úy, tâm não hại, tâm oán thù, tâm tranh luận, đều tiêu diệt tất cả. Tại sao vậy? Vì khi nhập tam muội Đại từ tùy thuận thế gian thì công năng của tam muội nầy tất nhiên là như vậy. Nầy thiện nam tử! Chờ giây lát ngươi sẽ tự thấy.

Bấy giờ, vua Đại Quang liền nhập tam muội nầy. Cả thành Diệu Quang, trong ngoài đều chấn động sáu cách. Những bửu địa, bửu tường, bửu đường, bửu điện, bửu đài quán, bửu lâu các, thềm bực, cửa nẻo, tất cả đều phát ra tiếng diệu âm, đều hướng về phía vua Ðại Quang.

Trong thành Diệu Quang tất cả cư dân đồng thời vui mừng hớn hở, đều hướng về phía nhà vua mà gieo mình đảnh lễ. Tất cả nhơn chúng trong thôn dinh thành ấp đều đến ra mắt vua, đều hoan hỷ kính lễ.

Gần chỗ vua ở, những loài điểu thú đều yêu mến săn sóc nhau, đều có lòng mến kính nhà vua. Tất cả núi đồi và cây cỏ đều xoay hướng về phía nhà vua. Tất cả ao, suối, sông, biển thảy đều tràn nước chảy đến phía trước chỗ vua ngự. Có mười ngàn Long vương nổi mây lớn thơm, phóng chớp nổ sấm, mưa rơi lất phất. Có mười ngàn Thiên vương, như là Ðao Lợi Thiên vương, Dạ Ma Thiên vương, Ðâu Suất Thiên vương, Thiện Biến Hóa Thiên vương, Tha Hóa Tự Tại Thiên vương, v.v… ở trên hư không tấu nhạc. Vô số Thiên nữ ca ngâm khen ngợi, mưa vô số mây thơm, vô số mây hoa, vô số mây tràng hoa, vô số mây bửu y, vô số mây bửu cái, vô số mây bửu tràng, vô số mây bửu phan, để trang nghiêm cúng dường nhà vua. Ðại tượng vương Y La Bà Noa dùng sức tự tại ở trên hư không rải vô số bửu liên hoa, thòng vô số bửu anh lạc, vô số bửu đới, vô số bửu man, vô số bửu trang nghiêm cụ, vô số bửu hoa, vô số bửu hương, các thứ kỳ diệu để nghiêm sức, vô số thể nữ ca ngâm khen ngợi.

Trong Diêm Phù Ðề lại có vô lượng trăm ngàn vạn ức La sát vương, Dạ xoa vương, Cưu bàn trà vương, Tỳ xá xà vương, hoặc ở đại hải, hoặc ở lục địa, uống huyết ăn thịt tàn hại chúng sanh, tất cả đều sanh từ tâm, nguyện làm lợi ích, biết rõ đời sau nên chẳng tạo điều ác, cung kính chắp tay đảnh lễ vua Đại Quang. Như Diêm Phù Ðề, ba thiên hạ khác, nhẫn đến Đại thiên thế giới, trong mười phương bá thiên vạn ức na do tha thế giới có bao nhiêu chúng sanh độc ác đều cũng phát từ tâm như vậy.

Bấy giờ, vua Đại Quang xuất định bảo Thiện Tài rằng:

Nầy thiện nam tử! Ta chỉ biết môn tam muội Bồ tát đại từ tùy thuận thế gian. Như chư đại Bồ tát làm lọng cao, vì từ tâm che khắp các chúng sanh. Chuyên tu hành, vì những hạnh hạ, trung, thượng đều bình đẳng thực hành. Làm đại địa, vì có thể dùng từ tâm nhiệm trì tất cả những chúng sanh. Làm mặt trăng tròn, vì phước đức quang minh ở trong thế gian bình đẳng hiển hiện. Làm mặt nhựt sáng, vì dùng trí quang minh chiếu diệu tất cả cảnh sở tri. Làm đèn sáng, vì có thể phá những hắc ám trong tâm của tất cả chúng sanh. Làm thủy thanh châu, có thể lóng trong những chất đục siểm cuống trong tâm của tất cả chúng sanh. Làm như ý bửu, vì có thể thỏa mãn tâm sở nguyện của tất cả chúng sanh. Làm đại phong, vì mau làm cho chúng sanh tu tập tam muội nhập đại thành Nhứt thiết trí.

Ta làm sao biết được hạnh đó, nói được đức đó, làm sao cân lượng được núi lớn phước đức đó, làm sao chiêm ngưỡng được ngôi sao sáng công đức đó, làm sao quán sát được phong luân đại nguyện đó, làm sao vào được pháp môn thậm thâm đó, làm sao hiển thị được đại hải trang nghiêm đó, làm sao xiển minh được hạnh môn Phổ Hiền đó. Làm sao khai thị được hang tam muội. Làm sao tán thán được mây đại bi đó.

Nầy thiện nam tử! Phương nam đây có một vương đô tên là An Trụ, có ưu ba di tên là Bất Ðộng. Ngươi đến đó hỏi Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo?

Thiện Tài đồng tử đảnh lễ nơi chân vua Đại Quang, hữu nhiễu vô lượng vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.

Lúc đó, Thiện Tài đồng tử ra khỏi thành Diệu Quang đi theo đường lớn về phía nam, chánh niệm tư duy ý nghĩa của vua Ðại Quang đã dạy, nhớ môn Bồ tát đại từ tràng hạnh, tư duy môn Bồ tát tùy thuận thế gian tam muội quang minh. Tăng trưởng sức phước đức tự tại nguyện bất tư nghì đó. Kiên cố trí bất tư nghì thành tựu chúng sanh đó. Quán sát đại oai đức bất tư nghì bất cộng thọ dụng đó. Ghi nhớ tướng bất tư nghì sai biệt đó. Suy gẫm quyến thuộc thanh tịnh bất tư nghì đó. Suy xét công hạnh bất tư nghì đó mà sanh tâm hoan hỷ, tâm tịnh tín, tâm mãnh lợi, tâm hân duyệt, tâm dũng dước, tâm khánh hạnh, tâm vô trược uế, tâm thanh tịnh, tâm kiên cố, tâm quảng đại, tâm vô tận.

Thiện Tài tư duy như vậy rồi buồn khóc rơi lệ, nghĩ thiện tri thức thiệt là hy hữu, là chỗ xuất sanh tất cả công đức, xuất sanh tất cả Bồ tát hạnh, xuất sanh tất cả Bồ tát tịnh niệm, xuất sanh tất cả đà la ni luân, xuất sanh tất cả tam muội quang minh, xuất sanh tất cả chư Phật tri kiến, mưa khắp tất cả chư Phật pháp vũ, hiển thị tất cả Bồ tát nguyện môn, xuất sanh nan tư trí huệ quang minh, tăng trưởng gốc mầm tất cả Bồ tát.

Thiện Tài lại nghĩ rằng: Thiện tri thức có thể cứu hộ khắp tất cả ác đạo, có thể diễn thuyết khắp các pháp bình đẳng, có thể hiển thị khắp những đường bằng, đường hiểm, có thể khai xiển khắp áo nghĩa Đại thừa, có thể khắp khuyên phát những hạnh Phổ Hiền, có thể khắp dẫn đến thành Nhứt thiết trí, có thể làm cho vào khắp pháp giới đại hải, có thể làm cho thấy khắp tam thế pháp hải, có thể khắp trao cho chúng thánh đạo tràng, có thể khắp tăng trưởng tất cả bạch pháp.

Lúc Thiện Tài bi ai tư niệm như vậy, đức Như Lai khiến Thiên vương hiện trên hư không bảo rằng:

Nầy thiện nam tử! Có ai tu hành đúng lời dạy của thiện tri thức, chư Phật Thế Tôn thảy đều hoan hỷ. Có ai tùy thuận theo lời của thiện tri thức thì được gần bực Nhứt thiết trí. Có ai đối với lời của thiện tri thức không nghi hoặc thì thường gặp gỡ tất cả thiện hữu. Có ai phát tâm nguyện thường chẳng rời thiện tri thức thì được đầy đủ tất cả nghĩa lợi.

Nầy thiện nam tử! Ngươi nên đến vương đô An Trụ sẽ được gặp Bất Ðộng ưu bà di đại thiện tri thức.

Thiện Tài từ tam muội Trí quang minh dậy, đi lần đến thành An Trụ tìm hỏi Bất Ðộng ưu bà di. Ðại chúng bảo rằng Bất Ðộng ưu bà di là đồng nữ ở nhà với cha mẹ, cùng với quyến thuộc vô lượng nhơn chúng diễn nói diệu pháp. Thiện Tài nghe nói lòng rất hoan hỷ như được gặp cha mẹ, liền
đến nhà Bất Ðộng ưu bà di.

Vào trong nhà thấy ánh sáng màu chơn kim chiếu khắp nơi, người gặp ánh sáng nầy thì thân tâm mát mẻ. Ánh sáng chiếu đến thân, Thiện Tài liền chứng được năm trăm môn tam muội. Như là môn tam muội Rõ tất cả tướng hy hữu, môn tam muội Nhập tịch tịnh, môn tam muội Xa lìa tất cả thế gian, môn tam muội Phổ nhãn xả đắc, môn tam muội Như Lai tạng, v.v… Do được năm trăm môn tam muội nên thân tâm nhu nhuyến như thai bảy ngày. Lại nghe mùi hương, cõi trời, cõi người không có được.

Thiện Tài đến chỗ ưu bà di cung kính chắp tay nhứt tâm quán sát, thấy hình sắc của ưu bà di đoan trang xinh đẹp. Tất cả nữ nhơn trong mười phương thế giới không ai sánh kịp huống là có người hơn, chỉ trừ đức Như Lai và chư quán đảnh Bồ tát.

Miệng ưu bà di phát ra diệu hương. Cung điện rất trang nghiêm và quyến thuộc của ưu bà di nầy không đâu sánh bằng. Tất cả chúng sanh không ai sanh tâm nhiễm trước đối với ưu bà di nầy. Nếu ai được tạm thời thấy ưu bà di nầy thì tất cả phiền não thảy đều tự tiêu diệt, ví như trăm ngàn Ðại Phạm Thiên vương, quyết định chẳng sanh phiền não cõi Dục. Thập phương chúng sanh nhìn xem ưu bà di nầy đều không nhàm chán, chỉ trừ bực đầy đủ đại trí huệ.

Lúc đó, Thiện Tài đồng tử cung kính chắp tay chánh niệm quán sát, thấy thân hình Bất Động ưu bà di tự tại bất tư nghì, sắc tướng dung nhan thế gian không sánh kịp. Quang minh chiếu suốt không vật gì ngăn được, vì khắp chúng sanh mà làm lợi ích. Lỗ lông nơi thân ưu bà di thường phát ra diệu hương. Quyến thuộc vô biên, cung điện đệ nhứt, công đức vô lượng không ngằn mé. Thiện Tài vui mừng hớn hở nói kệ tán thán:

Giữ gìn giới thanh tịnh

Tu hành nhẫn rộng lớn

Tinh tấn chẳng thối chuyển

Quang minh chiếu thế gian.

Nói kệ xong, Thiện Tài thưa:

Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề mà chưa biết Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo? Tôi nghe đức Thánh khéo chỉ bảo, xin dạy cho.

Bất Ðộng ưu bà di dùng lời nhu nhuyến duyệt ý của Bồ tát an ủi Thiện Tài rằng:

Lành thay! lành thay! Thiện nam tử đã phát tâm Vô thượng Bồ đề. Nầy thiện nam tử! Ta được môn giải thoát Bồ tát Nan tồi phục trí huệ tạng. Ta được Bồ tát Kiên cố thọ trì hạnh giải thoát môn. Ta được Bồ tát Nhứt thiết pháp bình đẳng địa tổng trì môn. Ta được Bồ tát Chiếu minh nhứt thiết pháp biện tài môn. Ta được Bồ tát Cầu nhứt thiết pháp vô bì yểm tam muội môn.

Thiện Tài thưa:

Bạch đức Thánh! Cảnh giới của Bồ tát Nan tồi phục trí huệ tạng giải thoát môn nhẫn đến cảnh giới của Bồ tát Cầu nhứt thiết pháp vô bì yểm tam muội môn như thế nào?

Bất Ðộng đồng nữ nói:

Nầy thiện nam tử! Chỗ nầy khó biết.

Thiện Tài thưa:

Mong đức Thánh thừa Phật thần lực giảng giải cho. Tôi sẽ nhơn thiện tri thức mà tin được, thọ được, biết được, rõ được, có thể hướng vào, quán sát, tu tập, tùy thuận, rời các phân biệt rốt ráo bình đẳng.

Bất Ðộng nói:

Nầy thiện nam tử! Quá khứ có một kiếp tên là Ly Cấu, Phật hiệu Tu Tý. Thuở đó có quốc vương tên là Ðiển Thọ chỉ sanh một gái, chính là tiền thân của ta.

Một đêm khuya kia, lúc dẹp âm nhạc, vương phụ, vương mẫu, vương huynh, vương đệ và năm trăm đồng nữ đều đã ngủ. Công nương ở trên lầu ngước xem tinh tú, ở trong hư không thấy đức Tu Tý Như Lai như tòa bửu sơn hai bên có vô lượng vô biên Thiên, Long, Bát bộ và chúng Bồ tát hầu hạ. Thân Phật phóng đại quang minh chiếu khắp mười phương không chướng ngại. Toàn thân Phật, các lỗ lông đều phát diệu hương. Công nương nghe diệu hương của Phật thân thể nhu nhuyến, lòng hoan hỷ, bèn xuống lầu đứng trên đất, chắp mười ngón tay đảnh lễ đức Phật.

Công nương lại quán sát vô kiến đảnh tướng của đức Phật, thấy thân Phật phía tả, phía hữu không biết được ngằn mé. Tư duy các tướng tùy hảo của Phật không nhàm chán. Tự nghĩ thầm: Ðức Phật Thế Tôn đây thực hành công hạnh gì mà được thân tướng tốt đẹp viên mãn quang minh đầy đủ, quyến thuộc thành tựu, cung điện trang nghiêm tốt đẹp, phước đức trí huệ thảy đều thanh tịnh, tổng trì tam muội chẳng thể nghĩ bàn, thần thông tự tại, biện tài vô ngại.

Khi ấy, Ðức Phật biết tâm niệm của công nương nên bảo rằng:

Nầy thiện nam tử, ngươi nên phát tâm bất khả hoại, diệt các phiền não. Nên phát tâm vô năng thắng, phá các chấp trước. Nên phát tâm không thối khiếp, nhập các pháp môn. Nên phát tâm nhẫn nại, cứu chúng sanh ác. Nên phát tâm không mê hoặc, thọ sanh khắp các loài. Nên phát tâm không nhàm đủ, cầu thấy chư Phật không thôi ngớt. Nên phát tâm không biết đủ, lãnh thọ tất cả pháp vũ của Như Lai. Nên phát tâm chánh tư duy, sanh khắp tất cả Phật pháp quang minh. Nên phát tâm đại trụ trì, chuyển khắp tất cả pháp luân của chư Phật. Nên phát tâm rộng lưu thông, tùy sở thích của chúng sanh mà ban cho pháp bửu.

Công nương nghe Phật dạy những pháp như vậy liền phát tâm cầu Nhứt thiết trí, cầu Phật thập lực, cầu Phật biện tài, cầu Phật quang minh, cầu Phật sắc thân, cầu Phật tướng hảo, cầu Phật chúng hội, cầu Phật quốc độ, cầu Phật oai nghi, cầu Phật thọ mạng. Tâm của công nương như kim cang, tất cả phiền não nhẫn đến Nhị thừa đều không phá hoại được.

Nầy thiện nam tử! Từ đời làm công nương phát tâm như vậy đến nay, trải qua Diêm Phù Đề vi trần số kiếp, ta còn chẳng móng một tâm niệm ái dục, huống là làm việc ấy. Trong những kiếp ấy đối với quyến thuộc chẳng khởi một niệm sân hận, huống là với chúng sanh khác. Trong những kiếp ấy, đối với tự thân không có một niệm ngã kiến, huống là có niệm ngã sở đối với đồ vật. Từ những kiếp ấy, lúc chết, lúc sanh và lúc ở trong bào thai chưa từng mê muội sanh tưởng chúng sanh và tâm vô ký, huống là những lúc khác. Trong những kiếp đó, tùy thấy một đức Phật nào chưa từng quên mất, huống là Bồ tát thập nhãn ngó thấy. Trong những kiếp ấy, thọ trì tất cả Như Lai chánh pháp chưa từng quên sót một chữ một câu, nhẫn đến tất cả ngôn từ của thế tục còn chẳng quên mất, huống là lời từ kim khẩu của đức Như Lai. Trong những kiếp ấy, thọ trì tất cả Như Lai pháp hải, không một câu, một chữ nào mà chẳng tư duy quán sát, nhẫn đến tất cả pháp thế tục cũng như vậy. Trong những kiếp ấy, thọ trì tất cả pháp hải như vậy, chưa từng ở trong một pháp mà chẳng được tam muội, nhẫn đến những kỹ thuật thế gian, mỗi mỗi pháp cũng đều như vậy. Trong những kiếp ấy, trụ trì tất cả Như Lai pháp luân, tùy pháp đã trụ trì chưa từng bỏ một chữ, một câu, nhẫn đến chưa từng sanh thế trí, chỉ trừ khi vì muốn điều phục chúng sanh. Trong những kiếp ấy, thấy chư Phật hải chưa từng ở chỗ một đức Phật nào mà chẳng thành tựu đại nguyện thanh tịnh, nhẫn đến ở chỗ Hóa Phật cũng như vậy. Trong những kiếp ấy, thấy chư Bồ tát tu hành diệu hạnh không có một hạnh nào mà chẳng thành tựu. Trong những kiếp ấy, có bao nhiêu chúng sanh, không có một chúng sanh nào mà ta chẳng khuyên phát tâm Vô thượng Bồ đề, chưa từng khuyên ai phát tâm Thanh văn, Bích chi Phật. Trong những kiếp ấy, nơi tất cả Phật pháp, nhẫn đến chẳng nghi hoặc một câu, một chữ. Cũng chẳng có tưởng sai khác, chẳng có tưởng phân biệt, chẳng có các thứ tưởng, chẳng có tưởng chấp trước, chẳng có tưởng thắng liệt, chẳng có tưởng yêu ghét.

Nầy thiện nam tử! Từ ấy đến nay, ta thường thấy chư Phật, thường thấy Bồ tát, thường thấy chơn thiện tri thức, thường nghe chư Phật nguyện, thường nghe Bồ tát hạnh, thường nghe Bồ tát ba la mật môn, thường nghe Bồ tát địa trí quang minh môn, thường nghe Bồ tát vô tận tạng môn, thường nghe nhập vô biên thế giới võng môn, thường nghe xuất sanh vô biên chúng sanh giới nhơn môn. Thường dùng trí huệ quang minh thanh tịnh diệt trừ tất cả chúng sanh phiền não. Thường dùng trí huệ sanh trưởng tất cả chúng sanh thiện căn. Thường tùy chúng sanh sở thích mà hiện thân. Thường dùng ngôn âm thượng diệu thanh tịnh khai ngộ pháp giới tất cả chúng sanh.

Nầy thiện nam tử! Ta được Bồ tát cầu nhứt thiết pháp vô yểm túc trang nghiêm môn. Ta được Nhứt thiết pháp tổng trì môn, hiện bất tư nghì tự tại thần biến. Ngươi muốn thấy chăng?

Thiện Tài thưa:

Vâng! Bạch đức Thánh! Tôi muốn được thấy.

Lúc đó, Bất Ðộng ưu bà di ngồi trên tòa long tạng sư tử, nhập Cầu nhứt thiết pháp vô yểm túc trang nghiêm tam muội môn, Bất không luân trang nghiêm tam muội môn, Thập lực trí luân hiện tiền tam muội môn, Phật chủng vô tận tạng tam muội môn… nhập một vạn tam muội môn như vậy. Lúc ưu bà di nhập tam muội môn nầy, mười phương đều có bất khả thuyết Phật sát vi trần số thế giới chấn động sáu cách, đều bằng lưu ly, đều thanh tịnh. Trong mỗi mỗi thế giới có trăm ức tứ thiên hạ, trăm ức Như Lai, hoặc trụ Ðâu Suất Thiên, nhẫn đến nhập Niết bàn, mỗi mỗi Như Lai phóng quang minh võng chiếu khắp pháp giới, đạo tràng chúng hội thanh tịnh vây quanh chuyển diệu pháp luân khai ngộ quần sanh.

Bất Ðộng ưu bà di xuất Tam muội, hỏi Thiện Tài:

Ngươi có thấy chăng?

Thiện Tài thưa:

Vâng! Tôi đã thấy.

Bất Ðộng ưu bà di nói:

Ta chỉ được Cầu nhứt thiết pháp vô yểm túc tam muội quang minh nầy, vì tất cả chúng sanh mà nói vi diệu pháp đều làm cho hoan hỷ. Như chư đại Bồ tát du hành hư không vô ngại. Như Kim sí điểu có thể vào tất cả chúng sanh đại hải, thấy có ai thiện căn đã thành thục, liền bắt lấy để trên bờ Bồ đề. Lại như thương gia vào đại bửu đảo lượm lấy Như Lai thập lực trí bửu. Lại như nhà chài lưới cầm lưới chánh pháp vào biển sanh tử ở trong nước ái lược bắt chúng sanh. Như A tu la vương có thể khuấy động khắp tam hữu đại thành những biển phiền não. Lại như mặt nhựt xuất hiện hư không chiếu nước ái dơ làm cho khô cạn. Lại như mặt trăng tròn xuất hiện hư không làm cho người đáng hóa độ, tâm hoa được khai nở. Lại như đại địa đều bình đẳng với tất cả, tất cả chúng sanh nương ở nơi đó được tăng trưởng gốc mầm tất cả pháp lành. Lại như đại phong thổi vô ngại, có thể nhổ trốc tất cả cây lớn kiến chấp. Như Chuyển Luân Vương du hành thế gian, dùng tứ nhiếp pháp nhiếp các chúng sanh. Ta thế nào biết được, nói được công đức hạnh ấy.

Nầy thiện nam tử! Phương nam đây có một đại thành tên là Vô Lượng Ðô Tát La. Trong thành đó có một xuất gia ngoại đạo tên là Biến Hành. Ngươi đến đó hỏi Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo?

Thiện Tài đồng tử đảnh lễ nơi chân Bất Ðộng ưu bà di, hữu nhiễu vô lượng vòng, ân cần chiêm ngưỡng, từ tạ mà đi.

*Thiện Tài đồng tử được nghe pháp nơi Bất Ðộng ưu bà di rồi, chuyên tâm nghĩ nhớ lời dạy bảo, thảy đều tin thọ tư duy quán sát rồi đi lần đến thành Ðô Tát La. Lúc vào thành mặt trời đã lặn, Thiện Tài đi khắp phố phường, làng xóm tìm Biến Hành.

Thành đông có núi tên là Thiện Đắc. Giữa đêm Thiện Tài thấy trên đỉnh núi ấy, cỏ cây gộp đá đều sáng chói như mặt trời mới mọc. Thiện Tài mừng rỡ nghĩ rằng: Tôi chắc được gặp thiện tri thức nơi núi ấy.

Thiện Tài liền ra khỏi thành lên núi ấy, thấy Biến Hành ngoại đạo đi kinh hành chậm rãi nơi khoảng đất bằng trên núi. Dung sắc viên mãn, oai quang chiếu sáng hơn cả Ðại Phạm Thiên vương. Có mười ngàn trời Phạm chúng vây quanh. Thiện Tài đến đảnh lễ nơi chân Biến Hành, hữu nhiễu vô lượng vòng, chắp tay cung kính thưa:

Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm Vô thượng
Bồ đề, mà chưa biết Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo? Tôi nghe đức Thánh khéo dạy bảo, xin vì tôi mà giảng nói.

Biến Hành nói:

Lành thay! Lành thay! Nầy thiện nam tử! Ta đã an trụ Chí nhứt thiết xứ Bồ tát hạnh, đã thành tựu Phổ quán thế gian tam muội môn, đã thành tựu vô y vô tác thần thông lực, đã thành tựu Phổ môn bát nhã ba la mật.

Nầy thiện nam tử! Ta ở khắp nơi trong thế gian, những hình mạo, những hạnh giải, những sự chết sống trong tất cả các loài: Loài Trời, loài Rồng, loài Dạ xoa, loài Càn thát bà, loài A tu la, loài Ca lâu la, loài Khẩn na la, loài Ma hầu la già, địa ngục, súc sanh, Diêm La vương, loài Phi nhơn, loài người.

Tất cả các loài hoặc trụ kiến chấp, hoặc tin Nhị thừa, hoặc có kẻ tin ưa đạo Đại thừa. Trong tất cả chúng sanh như vậy, ta dùng những phương tiện, những trí môn mà làm lợi ích cho họ.

Như là: Hoặc vì họ mà diễn nói tất cả kỹ nghệ thế gian, cho họ được đầy đủ trí đà la ni tất cả xảo thuật. Hoặc vì họ mà diễn nói phương tiện tứ nhiếp, cho họ đầy đủ đạo Nhứt thiết trí. Hoặc vì họ mà diễn nói các môn ba la mật, cho họ hồi hướng về Nhứt thiết trí. Hoặc vì họ mà tán dương tâm đại Bồ đề, cho họ chẳng mất tâm Vô thượng đạo. Hoặc vì họ mà tán dương những hạnh Bồ tát, cho họ được hoàn mãn nguyện cứu chúng sanh tịnh Phật độ. Hoặc vì họ mà diễn nói hễ tạo nghiệp ác thì bị những khổ báo địa ngục, v.v… cho họ nhàm lìa những ác nghiệp. Hoặc vì họ mà diễn nói cúng dường chư Phật trồng các căn lành thì quyết định được quả Nhứt thiết trí, cho họ phát sanh tâm hoan hỷ. Hoặc vì họ mà diễn nói những công đức của Như Lai Ðẳng Chánh giác, cho họ thích thân Phật, cầu Nhứt thiết trí. Hoặc vì họ mà diễn nói oai đức của chư Phật cho họ ưa thích thân bất hoại của Phật. Hoặc vì họ mà diễn nói thân tự tại của Phật, cho họ cầu thân đại oai đức của Như Lai.

Lại nầy thiện nam tử! Trong thành Ðô Tát La nầy, khắp mọi nơi, tất cả tộc loại, trong nhơn chúng hoặc nam, hoặc nữ, ta đều dùng phương tiện thị hiện đồng thân hình như họ, để tùy cơ nghi mà thuyết pháp độ họ. Chúng nhơn ấy đều chẳng biết ta là ai, từ đâu đến, chỉ làm cho người nghe như thiệt tu hành.

Nầy thiện nam tử! Như sự làm lợi ích chúng sanh trong thành nầy, khắp cõi Diêm Phù Ðề, những thành ấp tụ lạc, chỗ có người ở, ta cũng
đều làm lợi ích cho mọi người như vậy.

Nầy thiện nam tử! Trong Diêm Phù Ðề có chín mươi sáu loại chúng đều sanh kiến chấp khác nhau. Ở trong những chúng đó, ta dùng phương tiện điều phục cho họ bỏ lìa những kiến chấp. Như ở Diêm Phù Ðề, ba thiên hạ kia cũng vậy. Như tứ thiên hạ, khắp Đại thiên thế giới cũng vậy. Cho đến chúng sanh hải trong vô lượng thế giới ở mười phương, ta đều ở trong đó tùy tâm sở thích của chúng sanh, dùng những phương tiện, những pháp môn mà hiện những sắc thân dùng các thứ ngôn âm mà vì họ thuyết pháp cho họ được lợi ích.

Nầy thiện nam tử! Ta chỉ biết Chí nhứt thiết xứ Bồ tát hạnh nầy. Như chư đại Bồ tát, thân cùng đồng với số chúng sanh, được cùng chúng sanh không thân sai khác, dùng thân biến hóa, vào khắp các loài, nơi tất cả xứ đều hiện thọ sanh, hiện ở khắp chỗ chúng sanh thanh tịnh quang minh soi sáng thế gian, dùng vô ngại nguyện trụ tất cả kiếp, được những hạnh vô đẳng như đế võng, thường siêng lợi ích tất cả chúng sanh, hằng ở chung với họ mà không chấp trước, khắp tam thế thảy đều bình đẳng, dùng trí vô ngã soi khắp mọi nơi, dùng đại bi tạng quán sát tất cả… Ta không thể nào biết được, nói được những công đức hạnh đó.

Nầy thiện nam tử! Phương nam đây có một nước tên là Quảng Ðại, nơi đó có trưởng giả buôn hương tên là Ưu Bát La Hoa. Ngươi đến đó hỏi Bồ tát làm thế nào học Bồ tát hạnh, tu Bồ tát đạo?

Thiện Tài đồng tử đảnh lễ nơi chân Biến Hành, hữu nhiễu vô lượng vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.

Nhờ thiện tri thức dạy bảo, Thiện Tài chẳng đoái thân mạng, chẳng ham của báu, chẳng thích nhơn chúng, chẳng mê ngũ dục, chẳng luyến quyến thuộc, chẳng trọng ngôi vua. Chỉ nguyện cứu độ tất cả chúng sanh, chỉ nguyện nghiêm tịnh tất cả Phật độ, chỉ nguyện cúng dường tất cả chư Phật, chỉ nguyện chứng biết thiệt tánh của các pháp, chỉ nguyện tu tập biển công đức lớn của tất cả của Bồ tát, chỉ nguyện tu hành tất cả công đức trọn không thối chuyển, chỉ nguyện hằng ở trong tất cả kiếp dùng đại nguyện lực tu Bồ tát hạnh, chỉ nguyện vào khắp tất cả chư Phật chúng hội đạo tràng, chỉ nguyện nhập một môn tam muội mà hiện khắp tất cả môn tam muội tự tại thần lực, chỉ nguyện ở trong một lỗ lông của Phật, thấy tất cả Phật tâm không nhàm đủ, chỉ nguyện được tất cả pháp trí huệ quang minh, có thể thọ trì pháp tạng của chư Phật.

Thiện Tài chuyên cầu công đức của tất cả chư Phật và Bồ tát như vậy, đi lần qua thành Quảng Ðại, đến chỗ trưởng giả Ưu Bát La Hoa, đảnh lễ chân trưởng giả, hữu nhiễu vô lượng vòng, chắp tay cung kính thưa rằng:

Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề muốn cầu trí huệ bình đẳng của tất cả Phật. Muốn đủ vô lượng đại nguyện của tất cả Phật. Muốn tịnh sắc thân tối thượng của tất cả Phật. Muốn thấy pháp thân thanh tịnh của tất cả Phật. Muốn biết trí thân quảng đại của tất cả Phật. Muốn tịnh trị những hạnh của tất cả Bồ tát. Muốn chiếu sáng tam muội của tất cả Bồ tát. Muốn an trong trụ tổng trì của tất cả Bồ tát. Muốn diệt trừ tất cả chướng ngại. Muốn du hành tất cả thế giới mười phương… nhưng tôi chưa biết thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo, để có thể xuất sanh Nhứt thiết chủng trí.

Trưởng giả nói:

Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử có thể phát tâm Vô thượng Bồ đề.

Nầy thiện nam tử! Ta khéo biết rõ tất cả những thứ hương; cũng biết phương pháp điều hiệp tất cả hương, tất cả hương đốt, tất cả hương thoa, tất cả hương bột. Ta cũng biết chỗ xuất sanh tất cả thứ hương như vậy. Ta lại khéo biết Thiên hương, Long hương, Dạ xoa hương, Càn thát bà hương, A tu la hương, Ca lâu la hương, Khẩn na la hương, Ma hầu la già hương, Nhơn hương, Phi nhơn hương. Ta lại khéo biết các thứ hương trị bịnh; như là hương dứt ác, hương sanh hoan hỷ, hương thêm phiền não, hương diệt phiền não, hương làm cho ở nơi pháp hữu vi sanh ưa mến, hương làm cho sanh lòng nhàm lìa pháp hữu vi, hương bỏ những kiêu mạn phóng dật, hương phát tâm niệm Phật, hương chứng hiểu pháp môn, hương Thánh thọ dụng, hương tất cả Bồ tát sai biệt, hương tất cả địa vị Bồ tát. Các thứ hương như vậy, hình tướng sanh khởi, xuất hiện thành tựu cảnh giới phương tiện thanh tịnh an ổn, oai đức nghiệp dụng và cùng căn bổn, ta đều biết rõ cả.

Nầy thiện nam tử! Ở nhơn gian có thứ hương tên là Tượng tạng, nhơn nơi rồng đấu nhau mà sanh. Nếu đốt một hoàn, liền nổi mây hương che trùm vương đô, trong bảy ngày mưa thơm lất phất. Nếu đeo trên thân thì thân thành màu chơn kim. Nếu dắt trong y phục, cung điện, lầu gác, cũng đều màu chơn kim. Nếu gió thổi vào trong cung điện, chúng sanh ngửi được thì trọn bảy ngày đêm hoan hỷ thơ thới, khoái lạc không bịnh, chẳng xâm hại nhau, lìa các ưu khổ, chẳng kinh, chẳng sợ, chẳng loạn, chẳng giận, thương mến nhau, chí ý thanh tịnh. Ta biết như vậy rồi bèn vì họ mà thuyết pháp, cho họ quyết định phát tâm Vô thượng Bồ đề.

Nầy thiện nam tử! Núi Ma La Gia xuất sanh chiên đàn hương tên là Ngưu đầu. Nếu dùng hương nầy thoa trên thân thì dầu vào hầm lửa cũng chẳng bị cháy.

Nầy thiện nam tử! Trong biển có hương tên là Vô năng thắng, nếu đem thoa lên trống và các loa ốc, lúc phát ra tiếng thì tất cả quân địch đều tự thối tán.

Nầy thiện nam tử! Ở bên ao A Nậu Đạt xuất sanh trầm thủy hương tên là Liên hoa tạng, nếu đốt chừng bằng hạt mè thì hơi hương lan khắp Diêm Phù Ðề, chúng sanh ngửi hương nầy thì lìa tất cả tội, giới phẩm thanh tịnh.

Nầy thiện nam tử! Núi Tuyết có hương tên là A lô na, nếu có chúng sanh ngửi hương nầy thì tâm họ quyết định lìa những nhiễm trước, ta vì họ mà thuyết pháp, tất cả đều được Ly cấu tam muội.

Nầy thiện nam tử! Trong cõi La sát có thứ hương tên là Hải tạng, hương nầy chỉ có Chuyển Luân Vương được dùng. Nếu đốt một viên hương nầy để xông thì vua và bốn bộ binh đều bay đi trên không.

Nầy thiện nam tử! Trong trời Thiện Pháp có thứ hương tên là Tịnh trang nghiêm, nếu đốt lên một viên, liền khiến khắp chư Thiên đều niệm Phật.

Nầy thiện nam tử! Trời Dạ Ma có thứ hương tên là Tịnh tạng, nếu đốt lên một viên thì tất cả trời Dạ Ma đều vân tập đến chỗ Dạ Ma Thiên vương để nghe pháp.

Nầy thiện nam tử! Trong trời Ðâu Suất có thứ hương tên là Tiên đà bà, nếu đốt lên một viên trước chỗ ngồi của đức Nhứt sanh bổ xứ Bồ tát thì nổi mây hương lớn khắp pháp giới, khắp mưa tất cả những đồ cúng dường, để cúng dường tất cả chư Phật, Bồ tát.

Nầy thiện nam tử! Cõi trời Thiện Biến Hóa có thứ hương tên là Ðoạt ý, nếu đốt lên một viên thì trong bảy ngày khắp mưa tất cả những đồ trang nghiêm.

Nầy thiện nam tử! Ta chỉ biết phương pháp điều hòa các thứ hương đây. Như chư đại Bồ tát xa lìa tất cả tập khí của các pháp, chẳng nhiễm thế dục, dứt hẳn nơm rọ của chúng ma phiền não, thoát khỏi cõi hữu lậu, dùng hương trí huệ để tự trang nghiêm, nơi các thế gian đều không nhiễm trước, thành tựu đầy đủ giới vô trước, thanh tịnh trí vô trước, đi trong cảnh vô trước, ở tất cả xứ đều không chấp trước; tâm của các Ngài bình đẳng, không chấp trước, không y tựa… Ta làm thế nào biết được diệu hạnh đó, nói được công đức đó, hiểu được giới môn thanh tịnh của các Ngài, thị được công hạnh không sai lầm của các Ngài làm, biện được thân, khẩu, ý lìa nhiễm của các Ngài.

Nầy thiện nam tử! Phương nam đây có một thành lớn tên là Lâu Các, trong thành có một người lái thuyền tên là Bà Thi La. Ngươi đến đó hỏi Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, tu Bồ tát đạo?

Thiện Tài đồng tử đảnh lễ nơi chân trưởng giả Ưu Bát La Hoa, hữu nhiễu vô lượng vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.

Bấy giờ, Thiện Tài đi về phía thành Lâu Các, quán sát đường xá, như là xem đường cao thấp, xem đường bằng hiểm, đường sạch dơ, đường cong ngay. Tự nghĩ rằng: Tôi phải thân cận thiện tri thức đó. Thiện tri thức là nhơn thành tựu tu hành những đạo Bồ tát, là nhơn thành tựu tu hành đạo ba la mật, là nhơn thành tựu tu hành đạo nhiếp chúng sanh, là nhơn thành tựu tu hành đạo vào khắp pháp giới vô ngại, là nhơn thành tựu tu hành đạo khiến tất cả chúng sanh trừ ác huệ, là nhơn thành tựu tu hành đạo khiến các chúng sanh lìa kiêu mạn, là nhơn thành tựu tu hành đạo khiến các chúng sanh diệt trừ phiền não, là nhơn thành tựu tu hành đạo khiến tất cả chúng sanh bỏ những kiến chấp, là nhơn thành tựu tu hành đạo khiến các chúng sanh nhổ tất cả gai ác độc, là nhơn thành tựu tu hành đạo khiến tất cả chúng sanh đến thành Nhứt thiết trí.

Tại sao vậy? Vì ở chỗ thiện tri thức được tất cả thiện pháp. Vì nương sức thiện tri thức được đạo Nhứt thiết trí. Thiện tri thức rất là khó thấy, khó gặp.

Thiện Tài đồng tử suy nghĩ như vậy, đi lần đến thành Lâu Các, thấy Bà Thi La đương đứng trên bờ biển ở ngoài cửa thành. Trăm ngàn thương gia và vô lượng nhơn chúng vây quanh ông. Bà Thi La vì họ mà nói đại hải pháp phương tiện khai thị Phật công đức hải.

Thiện Tài đến lễ chân Bà Thi La hữu nhiễu vô lượng vòng, chắp tay cung kính thưa rằng:

Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề mà chưa biết Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, tu Bồ tát đạo? Tôi nghe đức Thánh khéo dạy bảo. Xin vì tôi mà nói.

Bà Thi La nói:

Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử đã có thể phát tâm Vô thượng Bồ đề, nay lại có thể hỏi nhơn duyên sanh đại trí, nhơn duyên dứt trừ tất cả khổ sanh tử, nhơn duyên đến cõi nước đại bửu Nhứt thiết trí, nhơn duyên thành tựu Đại thừa bất hoại, nhơn duyên xa lìa sự bố úy sanh tử an trụ trong những vòng tam muội tịch tịnh của hàng Nhị thừa, nhơn duyên ngồi xe đại nguyện đi khắp mọi nơi thực hành Bồ tát hạnh vô ngại thanh tịnh, nhơn duyên dùng Bồ tát hạnh trang nghiêm Nhứt thiết trí thanh tịnh, nhơn duyên quán sát khắp tất cả các pháp mười phương đều vô ngại thanh tịnh, nhơn duyên mau có thể vào biển Nhứt thiết trí thanh tịnh.

Nầy thiện nam tử! Ta ở trong đường trên bờ biển ngoài cửa thành lâu các nầy mà tịnh tu hạnh Bồ tát đại bi tràng.

Nầy thiện nam tử! Ta xem thấy chúng sanh nghèo cùng ở Diêm Phù Ðề nầy mà tu các khổ hạnh để lợi ích họ. Làm cho họ được thỏa mãn theo sở nguyện của họ. Trước đem thế lợi cho họ được đầy đủ rồi ban cho họ chánh pháp, cho họ hoan hỷ, cho họ tu phước hạnh, cho họ đạo sanh trí, cho họ thêm sức thiện căn, cho họ phát Bồ đề tâm, cho họ tịnh Bồ đề nguyện, cho họ vững chắc sức đại bi, cho họ tu đạo diệt sanh tử, cho họ chẳng nhàm hạnh sanh tử, cho họ nhiếp tất cả chúng sanh hải, cho họ tu tất cả công đức hải, cho họ chiếu rõ tất cả pháp hải, cho họ thấy tất cả Phật hải, cho họ vào Nhứt thiết chủng trí hải.

Nầy thiện nam tử! Ta ở nơi đây suy gẫm như vậy, nghĩ tưởng như vậy, lợi ích như vậy cho tất cả chúng sanh.

Nầy thiện nam tử! Ta biết trong biển, tất cả đảo châu báu, tất cả chỗ có châu báu, tất cả loại châu báu, tất cả thứ châu báu. Ta biết trau dồi tất cả châu báu, xoi xỏ tất cả châu báu, sản xuất tất cả châu báu, làm tất cả châu báu. Ta biết tất cả bửu khí, tất cả bửu dụng, tất cả bửu cảnh giới, tất cả bửu quang minh. Ta biết tất cả chỗ cung điện của rồng, tất cả chỗ cung điện của Dạ xoa, tất cả chỗ cung điện của Bộ đa. Ta đều khéo xa tránh những chỗ đó để khỏi những tai nạn. Ta cũng biết rõ chỗ nước xoáy, chỗ cạn sâu, sóng mòi xa gần, màu nước tốt xấu. Ta cũng biết rõ nhựt nguyệt tinh tú vận hành độ số, ngày đêm, sớm chiều, thời tiết dài ngắn. Ta cũng biết rõ trên thuyền, sắt, gỗ, cứng chắc, mềm yếu, máy móc rít trơn, nước lớn nhỏ, gió nghịch thuận. Tất cả những sự tướng an nguy như vậy, ta đều biết rõ cả, nên đi thì đi, nên đậu thì đậu. Nầy thiện nam tử! Ta dùng trí huệ đã
thành tựu đó để thường lợi ích tất cả chúng sanh.

Nầy thiện nam tử! Ta dùng thuyền tốt chở các thương gia đi đường yên ổn, lại thuyết pháp cho họ hoan hỷ. Ta đưa họ đến chỗ châu báu, cho họ đầy đủ châu báu. Rồi ta đưa họ về bổn xứ.

Nầy thiện nam tử! Ta đem thuyền lớn qua lại như vậy, chưa có lần nào bị tổn thất. Nếu có ai thấy thân ta, nghe ta thuyết pháp, thì họ trọn chẳng còn sợ biển sanh tử, mà được vào biển Nhứt thiết trí, tất có thể tiêu diệt những biển ái dục, có thể dùng trí quang chiếu sáng biển tam thế, có thể làm hết biển khổ của tất cả chúng sanh, có thể làm sạch tâm hải của tất cả chúng sanh, có thể nghiêm tịnh tất cả sát hải, có thể qua đến khắp biển lớn mười phương, có thể biết khắp căn hải của tất cả chúng sanh, rõ biết khắp hạnh hải của tất cả chúng sanh, có thể thuận khắp tâm hải của tất cả chúng sanh.

Nầy thiện nam tử! Ta chỉ được Đại bi tràng hạnh nầy. Nếu có ai thấy ta, nghe đến ta, cùng ta đồng ở, nhớ tưởng đến ta, thì đều chẳng phí uổng. Còn như chư đại Bồ tát khéo du hành trong biển lớn sanh tử, chẳng nhiễm tất cả những biển phiền não, có thể bỏ tất cả những biển vọng kiến, có thể quán sát những biển pháp tánh, có thể dùng tứ nhiếp để nhiếp biển chúng sanh, đã khéo an trụ biển Nhứt thiết trí, có thể diệt trừ biển chấp trước của tất cả chúng sanh, có thể bình đẳng trụ nơi biển tất cả thời gian, có thể dùng thần thông độ biển chúng sanh, có thể theo thời nghi điều phục biển chúng sanh… Ta làm thế nào biết được, nói được công đức hạnh đó.

Nầy thiện nam tử! Phương nam đây có thành tên là Khả Lạc. Trong thành ấy có trưởng giả tên là Vô Thượng Thắng. Ngươi đến đó hỏi Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo?

Thiện Tài đồng tử đảnh lễ nơi chân Bà Thi La, hữu nhiễu vô lượng vòng, buồn khóc rơi lệ, ân cần chiêm ngưỡng, tâm thiết tha cầu thiện tri thức từ tạ mà đi.

Lúc đó, Thiện Tài phát tâm đại từ cùng khắp, tâm đại bi nhuần thấm tiếp nối không dứt, phước đức trí huệ hai thứ trang nghiêm. Bỏ rời tất cả phiền não trần cấu, chứng pháp bình đẳng, tâm không cao hạ, nhổ gai bất thiện, diệt tất cả chướng, kiên cố tinh tấn dùng làm hào tường, thậm thâm tam muội làm vườn tược. Dùng mặt nhựt trí tuệ phá tối vô minh. Dùng gió phương tiện nở hoa trí tuệ. Dùng vô ngại nguyện sung mãn pháp giới. Tâm thường hiện nhập thành trì Nhứt thiết trí. Như vậy mà cầu đạo Bồ tát.

Thiện Tài đi lần đến thành Khả Lạc, thấy trưởng giả Vô Thượng Thắng ở nơi thành đông, trong rừng Vô Ưu Đại Trang Nghiêm Tràng, có vô lượng thương gia và trăm ngàn cư sĩ vây quanh. Trưởng giả quản lý phán đoán những sự vụ nhơn gian. Rồi trưởng giả lại nhơn đó vì đại chúng mà thuyết pháp. Làm cho họ khỏi hẳn tất cả ngã mạn, rời ngã và ngã sở, bỏ chỗ tích tụ, diệt tham xan tật đố, tâm được thanh tịnh không trược uế, được sức tịnh tín, thường thích thấy Phật thọ trì Phật pháp sanh Bồ tát lực, khởi Bồ tát hạnh, nhập Bồ tát tam muội, được Bồ tát trí huệ, trụ Bồ tát chánh niệm, thêm Bồ tát chí nguyện.

Thiện Tài thấy trưởng giả Vô Thượng Thắng đã vì đại chúng thuyết pháp xong, liền đến đảnh lễ chân trưởng giả giây lâu mới đứng dậy thưa rằng:

Bạch đức Thánh! Tôi là Thiện Tài. Tôi chuyên tìm cầu hạnh Bồ tát.

Bạch đức Thánh! Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh? Bồ tát thế nào tu Bồ tát đạo? Lúc tu học, làm thế nào thường có thể hóa độ tất cả chúng sanh, thường có thể hiện thấy tất cả chư Phật, thường được nghe tất cả Phật pháp, thường có thể trụ trì tất cả Phật pháp, thường có thể vào tất cả pháp môn, vào tất cả cõi học Bồ tát hạnh, trụ tất cả kiếp tu Bồ tát đạo, có thể biết thần lực của tất cả Như Lai, có thể được tất cả Như Lai hộ niệm, có thể được tất cả Như Lai trí huệ?

Trưởng giả Vô Thượng Thắng nói:

Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử đã có thể phát tâm Vô thượng Bồ đề.

Nầy thiện nam tử! Ta thành tựu Chí nhứt thiết xứ Bồ tát hạnh môn, sức thần thông vô y vô tác. Nầy thiện nam tử! Thế nào là Chí nhứt thiết xứ Bồ tát hạnh môn?

Nầy thiện nam tử! Ta ở tại Đại thiên thế giới nầy, trong tất cả chúng sanh nơi Dục giới. Những là tất cả Ðao Lợi Thiên, tất cả Tu Dạ Ma Thiên, tất cả Ðâu Suất Ðà Thiên, tất cả Thiện Biến Hóa Thiên, tất cả Tha Hóa Tự Tại Thiên, tất cả Ma Thiên và tất cả chỗ ở của chư Thiên, Long, Dạ xoa, La sát, Cưu bàn trà, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, Nhơn và Phi nhơn. Ta ở trong tất cả nơi đó mà vì tất cả các chúng sanh thuyết pháp, làm cho họ bỏ phi pháp, dứt tranh luận, trừ chiến đấu, thôi giận tranh, phá oan kiết, mở trói buộc, khỏi lao ngục, thoát bố úy, không sát sanh, nhẫn đến không tà kiến. Ðều làm cho họ cấm chỉ tất cả ác nghiệp những sự chẳng nên làm, khiến họ thuận làm tất cả pháp lành, khiến họ học tất cả kỹ nghệ, làm lợi ích ở thế gian. Vì họ mà phân biệt các thứ luận cho họ hoan hỷ, cho họ lần lần thành thục. Tùy thuận ngoại đạo, vì họ mà giảng thắng trí, cho họ dứt kiến chấp, cho họ nhập Phật pháp. Nhẫn đến tất cả Phạm Thiên cõi Sắc, ta cũng vì họ mà nói pháp siêu thắng.

Như ở Đại thiên thế giới nầy, trong mười bất khả thuyết trăm ngàn ức na do tha Phật sát vi trần số thế giới, ta cũng vì tất cả chúng sanh mà giảng nói Phật pháp, Bồ tát pháp, Thanh văn pháp, Ðộc giác pháp. Ta giảng nói địa ngục, chúng sanh địa ngục, nghiệp đạo hướng địa ngục. Ta giảng nói súc sanh, súc sanh sai biệt, súc sanh thọ khổ, nghiệp đạo hướng súc sanh. Ta giảng nói Diêm La vương thế gian, khổ của Diêm La vương thế gian, nghiệp đạo hướng Diêm La vương thế gian. Ta giảng nói nhơn gian, khổ vui của nhơn gian, nghiệp đạo hướng nhơn gian. Ta giảng nói Thiên thế gian, vui của Thiên thế gian, nghiệp đạo hướng Thiên thế gian.

Ta thuyết pháp là vì muốn khai hiển công đức của Bồ tát, vì làm cho chúng sanh bỏ lìa khổ hoạn sanh tử, vì làm cho họ biết thấy những diệu công đức của Nhứt thiết trí, vì muốn cho họ biết sự mê lầm thọ khổ trong các loài, vì cho họ thấy biết pháp không chướng ngại, vì muốn hiển thị sở nhơn sanh khởi thế gian, vì muốn hiển thị thế gian tịch diệt là vui, vì làm cho chúng sanh bỏ những chấp tưởng, vì làm cho họ chứng pháp vô y của Phật, vì làm cho họ diệt hẳn các phiền não, vì làm cho họ có thể chuyển Phật pháp luân.

Nầy thiện nam tử! Ta chỉ biết pháp môn Chí nhứt thiết xứ tu Bồ tát hạnh thanh tịnh, sức thần thông vô y vô tác. Như chư Bồ tát đầy đủ tất cả thần thông tự tại, đều có thể đến khắp tất cả cõi Phật, được bực Phổ nhãn, đều nghe tất cả âm thanh ngôn thuyết, trí huệ tự tại vào khắp các pháp, không trái không sai, dũng kiện không ai bằng, dùng tướng lưỡi rộng dài nói bình đẳng, thân các Ngài diệu hảo cùng chư Như Lai rốt ráo không hai, không khác, trí thân quảng đại vào khắp tam thế cảnh giới không ngằn mé đồng với hư không… Ta làm thế nào biết được, nói được công đức hạnh đó.

Nầy thiện nam tử! Phương nam đây có một quốc độ tên là Thâu Na. Nước đó có thành tên là Ca Lăng Ca Lâm. Trong thành có Tỳ kheo ni tên là Sư Tử Tần Thân. Ngươi đến đó hỏi Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, tu Bồ tát đạo?

Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân trưởng giả Vô Năng Thắng, hữu nhiễu vô lượng vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.

Thiện Tài đi lần đến thành Ca Lăng Ca Lâm tìm Tỳ kheo ni Sư Tử Tần Thân. Người trong thành bảo rằng Tỳ kheo ni ấy hiện ở tại trong vườn Nhựt Quang của Thắng Quang Vương hỷ cúng, đương thuyết pháp lợi ích vô lượng chúng sanh.

Thiện Tài liền đến vườn Nhựt Quang. Thấy trong vườn có một đại thọ tên Mãn nguyệt, tàng cây như lâu các, phóng ánh sáng chiếu một do tuần. Thấy một diệp thọ tên Phổ phúc, hình như cây lọng, phóng ánh sáng màu tỳ lưu ly xanh biếc. Thấy một hoa thọ tên Hoa tạng cao lớn hình như núi Tuyết, tuôn những hoa đẹp không cùng tận, như cây ba lợi chất đa la nơi cung trời Ðao Lợi. Lại thấy một Cam lộ quả thọ, hình như tòa núi vàng thường phóng quang minh, sai trĩu những trái cam lộ. Lại thấy một ma ni bửu thọ tên Tỳ lô giá na tạng, hình đẹp không gì bằng, tâm vương ma ni bửu ở trên chót cây, vô số ma ni bửu trang nghiêm khắp cây. Lại thấy y thọ tên Thanh tịnh, những y phục nhiều màu thòng rủ nghiêm sức. Lại có âm nhạc thọ tên Hoan hỷ, vang tiếng âm nhạc hơn cả nhạc trời. Lại có hương thọ tên Phổ trang nghiêm, hằng phát mùi thơm huân khắp mười phương không chướng ngại.

Trong vườn lại có suối chảy, ao mát, tất cả đều bằng thất bửu trang nghiêm, bùn hắc chiên đàn chứa đọng trong đó, cát chơn kim trải mặt đáy, toàn nước bát công đức. Hoa sen bốn màu xanh, vàng, đỏ, trắng phô trên mặt nước. Lại có vô lượng bửu thọ bày hàng khắp nơi. Mỗi gốc cây có một tòa sư tử, trang nghiêm với các thứ diệu bửu, dùng Thiên y để trải, ướp bằng diệu hương, thòng những lụa báu, giăng những bửu trướng, vàng diêm phù đàn che phía trên, lạc báu chạm reo vang tiếng vi diệu. Hoặc có gốc cây thiết tòa liên hoa tạng sư tử. Có gốc cây thiết tòa hương vương ma ni tạng sư tử. Có gốc cây thiết tòa long trang nghiêm ma ni vương tạng. Có gốc cây thiết tòa bửu sư tử tụ ma ni vương tạng. Có gốc cây thiết tòa Tỳ lô giá na ma ni vương tạng sư tử. Có gốc cây thiết tòa thập phương Tỳ lô giá na ma ni vương tạng sư tử. Mỗi sư tử tòa đều có mười vạn tòa báu vây quanh, đều đủ vô lượng thứ trang nghiêm.

Trong vườn Nhựt Quang nầy, đầy những châu báu như bửu đảo ngoài đại hải. Dùng y ca lân đà trải mặt đất, y nầy rất êm dịu, mềm mát. Ðạp lên thì lún bàn chân, dở chân thì hoàn lại. Có vô lượng thứ chim vang tiếng hòa nhã. Rừng cây bửu chiên đàn rất trang nghiêm, thường tuôn diệu hoa vô tận, như vườn tạp hoa của Thiên Ðế Thích. Hương vương vô tỷ thơm ngát khắp nơi, như Thiện Pháp Đường của Thiên Ðế. Những cây âm nhạc, cây bửu đa la, những lưới linh báu, vang tiếng vi diệu, như tiếng ca ngâm của Thiện Khẩu Thiên nữ ở cung trời Tự Tại. Những cây như ý thòng rủ các thứ y đẹp trang nghiêm rộng lớn như đại hải, có vô lượng màu sắc. Trăm ngàn lâu các trang nghiêm bằng châu báu, như thành Thiện Kiến ở Ðao Lợi Thiên cung. Lọng báu giăng rộng như đảnh núi Tu Di. Quang minh chiếu sáng như cung trời Phạm vương.

Thiện Tài thấy vườn Nhựt Quang có vô lượng công đức, vô lượng trang nghiêm. Ðây là do công hạnh của Bồ tát cảm thành, căn lành xuất thế phát khởi, cúng dường chư Phật sanh ra, tất cả thế gian không đâu sánh bằng. Ðây là do Tỳ kheo ni Sư Tử Tần Thân thấu rõ pháp như huyễn, chứa nhóm phước đức lành thanh tịnh quảng đại mà thành tựu cảnh vườn trang nghiêm nầy. Thiên, Long, Bát bộ vô lượng chúng sanh trong Đại thiên thế giới đều vào vườn nầy vẫn không chật hẹp. Tại sao vậy? Vì do oai thần bất tư nghì của Tỳ kheo ni Sư Tử Tần Thân nầy khiến nên như vậy.

Thiện Tài thấy Tỳ kheo ni nầy ngồi khắp trên tất cả tòa đại sư tử dưới những cội cây. Thân tướng đoan nghiêm, oai nghi tịch tịnh. Các căn điều thuận như đại tượng vương. Tâm không cấu trược như thanh tịnh địa. Khắp giúp ích chỗ cầu của mọi người như bửu châu như ý. Không nhiễm thế gian như hoa sen. Tâm vô úy như sư tử vương. Hộ trì tịnh giới vững vàng như núi Tu Di. Có thể làm cho người thấy lòng được thanh tịnh như diệu hương vương. Có thể trừ phiền não của chúng sanh như hương diệu chiên đàn trong núi Tuyết. Chúng sanh được thấy thì hết khổ như Thiện Kiến Dược vương. Người thấy chẳng luống uổng như Bà Lâu Na Thiên. Có thể sanh trưởng tất cả mầm thiện căn như ruộng phì nhiêu.

Tại mỗi tòa đại sư tử chúng hội không đồng nhau, lời thuyết pháp cũng đều sai khác. Hoặc thấy chỗ thì chúng hội là Tịnh Cư Thiên, thượng thủ là Ðại Tự Tại Thiên vương. Tỳ kheo Ni nầy vì họ mà nói pháp môn Vô tận giải thoát.

Chỗ thì chúng hội là Phạm Thiên, Ái Lạc Phạm vương làm thượng thủ. Tỳ kheo ni nầy vì họ mà nói pháp môn tên là Phổ môn sai biệt thanh tịnh ngôn âm luân.

Chỗ thì chúng hội là Tha Hóa Tự Tại Thiên, các Thiên tử, Thiên nữ vây quanh, Tự Tại Thiên vương làm thượng thủ. Tỳ kheo ni nầy vì họ mà nói pháp môn tên là Bồ tát thanh tịnh tâm.

Chỗ thì chúng hội là Thiện Biến Hóa Thiên, các Thiên tử, Thiên nữ vây quanh, Thiện Hóa Thiên vương làm thượng thủ. Tỳ kheo ni nầy vì họ mà nói pháp môn tên là Nhứt thiết pháp thiện trang nghiêm.

Chỗ thì chúng hội là Ðâu Suất Thiên, các Thiên tử, Thiên nữ vây quanh, Ðâu Suất Thiên vương làm thượng thủ. Tỳ kheo ni nầy vì họ mà nói pháp môn tên là Tâm tạng triền.

Chỗ thì chúng hội là Dạ Ma Thiên, các Thiên tử, Thiên nữ vây quanh, Dạ Ma Thiên vương làm thượng thủ. Tỳ kheo ni nầy vì họ mà nói pháp môn tên là Vô biên trang nghiêm.

Chỗ thì chúng hội là Ðao Lợi Thiên, các Thiên tử, Thiên nữ vây quanh, Thích Ðề Hoàn Nhơn làm thượng thủ. Tỳ kheo ni nầy vì họ mà nói pháp môn tên là Yểm ly môn.

Chỗ thì chúng hội là chư Long tử, Long nữ, Bá Quang Minh Long vương, Nan Ðà Long vương, Ưu Ba Nan Ðà Long vương, Ma Na Tư Long vương, Y La Bạt Nan Ðà Long vương, A Na Bà Ðạt Ða Long vương, v.v… Ta Già Long vương làm thượng thủ. Tỳ kheo ni nầy vì họ mà nói pháp môn tên là Phật thần thông cảnh giới quang minh trang nghiêm.

Chỗ thì chúng hội là thần Dạ xoa, Tỳ Sa Môn Thiên vương làm thượng thủ. Tỳ kheo Ni nầy vì họ mà nói pháp môn tên là Cứu hộ chúng sanh tạng.

Chỗ thì chúng hội là thần Càn thát bà, Trì Quốc Thiên vương làm thượng thủ. Tỳ kheo Ni nầy vì họ mà nói pháp môn tên là Vô tận hỷ.

Chỗ thì chúng hội là A tu la, La Hầu A tu la vương làm thượng thủ. Tỳ kheo ni nầy vì họ mà nói pháp môn tên là Tốc tật trang nghiêm pháp giới trí môn.

Chỗ thì chúng hội là Ca lâu la, Thiệp Trì Ca lâu la vương làm thượng thủ. Tỳ kheo ni nầy vì họ mà nói pháp môn tên là Bố động chư hữu hải.

Chỗ thì chúng hội là Khẩn na la, Ðại Thọ Khẩn na la vương làm thượng thủ. Tỳ kheo ni nầy vì họ mà nói pháp môn tên là Phật hạnh quang minh.

Chỗ thì chúng hội là Ma hầu la già, Am La Lâm Ma hầu la già vương làm thượng thủ.Tỳ kheo ni nầy vì họ mà nói pháp môn tên là Sanh Phật hoan hỷ tâm.

Chỗ thì chúng hội là vô lượng nam tử, nữ nhơn. Tỳ kheo ni nầy vì họ mà nói pháp môn tên là Thù thắng hạnh.

Chỗ thì chúng hội là La sát, Thường Ðoạt Tinh Khí Ðại Thọ La sát vương làm thượng thủ. Tỳ kheo ni nầy vì họ mà nói pháp môn tên là Phát sanh bi mẫn tâm.

Chỗ thì chúng hội là chúng sanh tin ưa Thanh văn thừa. Tỳ kheo ni nầy vì họ mà nói pháp môn tên là Thắng trí quang minh.

Chỗ thì chúng hội là chúng sanh tin ưa Duyên giác thừa. Tỳ kheo ni nầy vì họ mà nói pháp môn tên là Phật công đức quảng đại quang minh.

Chỗ thì chúng hội là những chúng sanh tin ưa Đại thừa. Tỳ kheo ni nầy vì họ mà nói pháp môn tên là Phổ môn tam muội trí quang minh môn.

Chỗ thì chúng hội là sơ phát tâm Bồ tát. Tỳ kheo ni nầy vì họ mà nói pháp môn tên là Nhứt thiết Phật nguyện tụ.

Chỗ thì chúng hội là đệ Nhị địa Bồ tát. Tỳ kheo ni nầy vì họ mà nói pháp môn tên là Ly cấu luân.

Chỗ thì chúng hội là đệ Tam địa Bồ tát. Tỳ kheo ni nầy vì họ mà nói pháp môn tên là Tịch tịnh trang nghiêm.

Chỗ thì chúng hội là đệ Tứ địa Bồ tát. Tỳ kheo ni nầy vì họ mà nói pháp môn tên là Sanh Nhứt thiết trí cảnh giới.

Chỗ thì chúng hội là đệ Ngũ địa Bồ tát. Tỳ kheo ni nầy vì họ mà nói pháp môn tên là Diệu hoa tạng.

Chỗ thì chúng hội là đệ Lục địa Bồ tát. Tỳ kheo ni nầy vì họ mà nói pháp môn tên là Tỳ lô giá na tạng.

Chỗ thì chúng hội là đệ Thất địa Bồ tát. Tỳ kheo ni nầy vì họ mà nói pháp môn tên là Phổ trang nghiêm địa.

Chỗ thì chúng hội là đệ Bát địa Bồ tát. Tỳ kheo ni nầy vì họ mà nói pháp môn tên là Biến pháp giới cảnh giới thân.

Chỗ thì chùng hội là đệ Cửu địa Bồ tát. Tỳ kheo ni nầy vì họ mà nói pháp môn tên là Vô sở đắc lực trang nghiêm.

Chỗ thì chúng hội là đệ Thập địa Bồ tát.Tỳ kheo ni nầy vì họ mà nói pháp môn tên là Vô ngại luân.

Chỗ thì chúng hội là Chấp Kim Cang Thần.Tỳ kheo ni nầy vì họ mà nói pháp môn tên là Kim cang trí na la diên trang nghiêm.

Thiện Tài thấy khắp nơi, các loài, các chúng sanh đã thành thục, đã điều phục, kham làm pháp khí đều vào trong vườn nầy, quây quần ngồi quanh dưới bửu tòa. Sư Tử Tần Thân Tỳ kheo ni tùy theo trí giải thắng liệt sai khác của họ mà vì họ thuyết pháp cho họ chẳng thối chuyển nơi Vô thượng Bồ đề.

Tại sao vậy? Vì Tỳ kheo ni nầy nhập phổ nhãn xả, chứng được môn Bát nhã ba la mật, môn Bát nhã ba la mật diễn nói tất cả Phật pháp, môn Bát nhã ba la mật pháp giới sai biệt, môn Bát nhã ba la mật tán hoại tất cả chướng ngại, môn Bát nhã ba la mật sanh thiện tâm cho tất cả chúng sanh, môn Bát nhã ba la mật thù thắng trang nghiêm, môn Bát nhã ba la mật vô ngại chơn thiệt tạng, môn Bát nhã ba la mật pháp giới viên mãn, môn Bát nhã ba la mật tâm tạng, môn Bát nhã ba la mật khắp xuất sanh tạng. Trong mười môn nầy, đầu tiên là Bát nhã ba la mật môn. Tỳ kheo ni nầy nhập vô số trăm ngàn môn Bát nhã ba la mật như vậy. Tất cả Bồ tát và chúng sanh trong vườn Nhựt Quang đều là do Sư Tử Tần Thân Tỳ kheo ni khuyên phát tâm thọ trì chánh pháp tư duy tu tập, đều được bất thối chuyển nơi đạo Vô thượng Chánh giác.

Thiện Tài đồng tử thấy khu vườn như vậy, bửu tòa như vậy, kinh hành như vậy, chúng hội như vậy, thần lực như vậy, biện tài như vậy. Lại nghe bất tư nghì pháp môn, pháp vân quảng đại nhuần thấm tâm mình, bèn nghĩ rằng tôi sẽ cung kính hữu nhiễu Tỳ kheo ni nầy vô lượng trăm ngàn vòng.

Lúc đó, Sư Tử Tần Thân Tỳ kheo ni phóng
đại quang minh chiếu khắp khu vườn Nhựt Quang và chúng hội. Thiện Tài liền thấy thân mình cùng tất cả bửu thọ trong vườn đều đồng thời hữu nhiễu Tỳ kheo ni nầy cả vô lượng trăm ngàn muôn vòng. Hữu nhiễu xong, Thiện Tài chắp tay thưa rằng:

Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề mà chưa biết Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo? Tôi nghe đức Thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho.

Tỳ kheo ni nói:

Nầy thiện nam tử! Ta được môn giải thoát tên là Thành tựu Nhứt thiết trí.

Thiện Tài thưa:

Bạch đức Thánh! Cớ sao gọi là Thành tựu Nhứt thiết trí.

Tỳ kheo ni nói:

Nầy thiện nam tử! Quang minh của trí nầy, trong một niệm chiếu khắp tất cả tam thế Phật pháp.

Thiện Tài thưa:

Bạch đức Thánh! Quang minh của trí nầy, cảnh giới thế nào?

Tỳ kheo ni nói:

Nầy thiện nam tử! Ta nhập môn Trí quang minh nầy được Xuất sanh nhứt thiết pháp tam muội vương. Do tam muội nầy nên được ý sanh thân qua đến mười phương tất cả thế giới, chỗ của Nhứt sanh bổ xứ Bồ tát nơi cung Ðâu Suất. Trước mỗi Bồ tát, ta hiện bất khả thuyết Phật sát vi trần số thân. Mỗi thân dâng bất khả thuyết Phật sát vi trần số đồ cúng dường. Như là hiện thân Thiên vương, nhẫn đến thân Nhơn vương cầm hoa vân, hương vân, y phục, anh lạc, bửu phan, bửu cái, bửu võng, bửu trướng, bửu tạng, bửu đăng, dâng lên cúng dường.

Như ở chỗ Bồ tát nơi Ðâu Suất Thiên cung, nơi Bồ tát trụ thai, xuất thai, tại gia, xuất gia, đến đạo tràng, thành Chánh giác, chuyển pháp luân, nhập Niết bàn. Trong khoảng thời gian đó, hoặc ở Thiên cung, hoặc ở Long cung, nhẫn đến ở nhơn cung, nơi mỗi mỗi đức Như Lai, ta đều cúng dường như vậy. Nếu có chúng sanh nào biết ta cúng dường chư Phật như vậy, thì đều được chẳng thối chuyển nơi Vô thượng Bồ đề. Nếu chúng sanh nào đến chỗ của ta, thì ta vì họ mà giảng nói bát nhã ba la mật.

Nầy thiện nam tử! Ta thấy tất cả chúng sanh, vì trí nhãn thấy rõ nên ta chẳng phân biệt chúng sanh tướng. Nghe tất cả ngữ ngôn, vì tâm không chấp trước nên ta chẳng phân biệt ngữ ngôn tướng. Thấy tất cả Như Lai, vì thấu rõ pháp thân nên ta chẳng phân biệt Như Lai tướng. Trụ trì tất cả pháp luân, vì ngộ pháp tự tánh nên ta chẳng phân biệt pháp luân tướng. Một niệm biết khắp tất cả pháp, vì biết pháp như huyễn nên ta chẳng phân biệt pháp tướng.

Nầy thiện nam tử! Ta chỉ biết môn giải thoát Thành tựu Nhứt thiết trí nầy.

Như chư đại Bồ tát dùng tâm vô phân biệt biết khắp các pháp, một thân ngồi yên mà đầy khắp cả pháp giới. Ở trong tự thân hiện tất cả cõi. Khoảng một niệm đến khắp tất cả chỗ chư Phật. Ở trong tự thân hiện khắp tất cả thần lực của chư Phật. Dùng một sợi lông đỡ khắp bất khả thuyết thế giới lên. Trong một lỗ lông nơi tự thân hiện bất khả thuyết thế giới thành hoại. Trong khoảng một niệm cùng với bất khả thuyết chúng sanh đồng ở. Trong khoảng một niệm nhập bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp… Ta thế nào biết được, nói hết được công đức diệu hạnh đó.

Nầy thiện nam tử! Phương nam đây có một nước tên là Hiểm Nạn. Nước đó có thành tên là Bửu Trang Nghiêm. Trong thành ấy có một nữ nhơn tên là Bà Tu Mật Ða. Ngươi đến đó hỏi Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo?

Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân Sư Tử Tần Thân Tỳ kheo ni, hữu nhiễu vô số vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.

*Thiện Tài được đại trí quang minh soi mở tâm, tư duy quán sát thấy tánh của các pháp. Ðược môn đà la ni Rõ biết tất cả ngôn âm. Ðược môn đà la ni Thọ trì tất cả pháp luân. Ðược sức đại bi làm chỗ quy y cho tất cả chúng sanh. Ðược môn Quang minh quán sát nghĩa lý của tất cả pháp. Ðược thanh tịnh nguyện sung mãn pháp giới. Ðược trí quang minh chiếu khắp mười phương tất cả pháp. Ðược sức tự tại khắp trang nghiêm tất cả thế giới. Ðược viên mãn nguyện khắp phát khởi tất cả Bồ tát hạnh.

Thiện Tài đi lần đến nước Hiểm Nạn, thành Bửu Trang Nghiêm tìm Bà Tu Mật Ða nữ.

Trong thành, những người chẳng biết công đức trí huệ của cô gái ấy nên nghĩ rằng: Ðồng tử nầy thân căn tịch tịnh, trí huệ sáng suốt chẳng mê, chẳng loạn, nhìn kỹ một tầm, không lười mỏi, không chấp trước, mắt ngó chẳng nháy, tâm không tán động sâu rộng như đại hải. Người như vậy chẳng nên ở nơi cô gái Bà Tu Mật Ða mà có tâm tham ái, có tâm điên đảo, sanh tưởng là sạch, sanh tưởng ái dục. Chẳng nên bị nữ sắc cám dỗ. Ðồng tử nầy chẳng làm hạnh ma, chẳng nhập ma cảnh, chẳng chìm nước bùn ái dục, chẳng bị ma trói, chỗ chẳng nên làm đã có thể chẳng làm. Sao lại có ý gì mà tìm cô gái nầy.

Có người đã biết công đức trí huệ của cô gái nầy, bèn bảo Thiện Tài rằng:

Lành thay! Lành thay! Nầy thiện nam tử có thể tìm Bà Tu Mật Ða nữ. Thế là đã được lợi lành rộng lớn.

Thiện nam tử! Ông nên quyết định cầu quả vị Phật, quyết định vì chúng sanh mà làm chỗ y tựa, quyết định muốn nhổ mũi tên độc tham ái cho tất cả chúng sanh, quyết định muốn phá những ý tưởng sạch sẽ đối với nữ sắc của tất cả chúng sanh.

Nầy thiện nam tử! Bà Tu Mật Ða nữ hiện ở nhà của cô tại chợ bắc trong thành nầy.

Thiện Tài vui mừng hớn hở đến cổng nhà Bà Tu Mật Ða nữ. Thấy nhà nầy rộng rãi nghiêm lệ, tường báu, cây báu, hào báu, mỗi mỗi bao quanh mười lớp. Trong hào báu đầy nước thơm, cát vàng trải đáy, những bửu hoa, bông sen bốn màu xanh, vàng, đỏ, trắng đua nở trên mặt nước. Cung điện lâu các, đều tráng lệ. Cửa nẻo thành hàng nối nhau, đều treo lạc, treo lưới, đều treo phan, treo tràng. Vô lượng trân kỳ dùng để nghiêm sức. Ðất bằng lưu ly xen lẫn những châu báu. Xông trầm thủy, thoa chiên đàn. Treo những linh báu, gió rung trỗi nhạc. Rải những Thiên hoa trải khắp mặt đất. Những sự trang nghiêm tráng lệ không thể tả hết. Những kho tàng trân bửu đến số trăm ngàn. Mười khu vườn lớn rất mực trang nghiêm.

Thiện Tài thấy Bà Tu Mật Ða nữ nhan mạo đoan nghiêm, sắc tướng viên mãn. Da màu chơn kim. Tóc và mắt màu xanh biếc, chẳng dài ngắn, chẳng thô tế. Tất cả hàng nhơn Thiên cõi Dục không ai sánh bằng. Tiếng nói thanh tốt hơn trời Phạm Thế. Tất cả ngôn âm sai biệt của tất cả chúng sanh đều biết, đều hiểu. Thấu rõ chữ nghĩa, khéo luận đàm, được trí như huyễn nhập môn phương tiện. Trên thân của nữ nhơn nầy trang sức bằng những chuỗi ngọc báu và những đồ trang nghiêm. Ðầu đội mão như ý bửu châu. Lại có vô lượng quyến thuộc vây quanh, đều đồng thiện căn, đều đồng hạnh nguyện, phước đức vô tận.

Bà Tu Mật Ða nữ, từ trên thân phóng quang minh quảng đại chiếu khắp cả nhà, tất cả cung điện. Người được ánh sáng nầy chiếu đến thì thân được mát mẻ.

Thiện Tài đến đảnh lễ chân Bà Tu Mật Ða nữ, chắp tay cung kính thưa rằng:

Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề mà chưa biết thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo? Tôi nghe đức Thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho.

Bà Tu Mật Ða nữ nói:

Nầy thiện nam tử! Ta được Bồ tát giải thoát môn tên là Ly tham dục tế, tùy chỗ sở thích của chúng sanh mà hiện thân.

Nếu chư Thiên thấy ta, thì ta là Thiên nữ xinh đẹp rực rỡ. Như vậy nhẫn đến Nhơn hay Phi nhơn thấy ta, thì ta là Nhơn nữ hay Phi nhơn nữ.

Nếu có người vì lòng dục mà đến tìm ta, gặp ta thuyết pháp, họ nghe pháp rồi thì hết tham dục được Bồ tát vô trước cảnh giới tam muội.

Nếu có chúng sanh tạm thấy ta thì lìa tham dục mà được Bồ tát hoan hỷ tam muội.

Nếu có chúng sanh tạm cùng ta nói chuyện, thì lìa tham dục mà được Bồ tát vô ngại âm thanh tam muội.

Nếu có chúng sanh tạm cầm tay ta, thì lìa tham dục mà được Bồ tát tam muội đến khắp tất cả cõi Phật.

Nếu có chúng sanh tạm lên trên chỗ ngồi của ta, thì lìa tham dục mà được Bồ tát giải thoát quang minh tam muội.

Nếu có chúng sanh tạm nhìn ta, thì lìa tham dục mà được Bồ tát tịch tịnh trang nghiêm tam muội.

Nếu có chúng sanh thấy ta, thì lìa tham dục mà được Bồ tát tồi phục ngoại đạo tam muội.

Nếu có chúng sanh thấy mắt ta nháy, thì lìa tham dục mà được Bồ tát Phật cảnh giới quang minh tam muội.

Nếu có chúng sanh ôm ta, thì lìa tham dục mà được Bồ tát tam muội nhiếp tất cả chúng sanh hằng chẳng bỏ lìa.

Nếu chúng sanh nút môi ta, thì lìa tham dục mà được Bồ tát tam muội tăng trưởng phước đức tạng cho tất cả chúng sanh.

Phàm có chúng sanh nào thân cận ta, tất cả đều lìa tham dục mà được nhập Bồ tát Nhứt thiết trí hiện tiền giải thoát vô ngại.

Thiện Tài thưa:

Ðức Thánh gieo căn lành gì, tu phước nghiệp gì mà được thành tựu tự tại như vậy?

Bà Tu Mật Ða nữ nói:

Nầy thiện nam tử! Ta nhớ thuở quá khứ có đức Phật hiệu Cao Hạnh. Ðô thành của vua nước ấy tên là Sa Môn. Ðức Cao Hạnh Như Lai vào thành Sa Môn, chân Phật đạp lên ngạch cổng thành. Liền đó cả thành đều chấn động, bỗng trở nên rộng rãi, trang nghiêm với những châu báu, vô lượng quang minh chiếu suốt lẫn nhau. Những bửu hoa rải khắp mặt đất. Chư Thiên âm nhạc đồng thời hòa tấu, tất cả chư Thiên sung mãn hư không.

Thuở ấy ta là vợ trưởng giả tên là Thiện Huệ, thấy thần lực của Phật, tâm liền giác ngộ. Ta cùng trưởng giả đến chỗ Phật, dâng lên Phật một bửu tiền. Khi đó, Văn Thù Sự Lợi đồng tử đương làm thị giả của đức Phật Cao Hạnh, vì ta mà thuyết pháp, khiến ta phát tâm Vô thượng Bồ đề.

Nầy thiện nam tử! Ta chỉ biết môn Giải thoát Bồ tát ly tham tế nầy.

Như chư đại Bồ tát thành tựu vô biên trí xảo phương tiện, công đức quảng đại, cảnh giới vô tỷ. Ta thế nào biết được, nói được công đức hạnh đó.

Nầy thiện nam tử! Phương nam đây có thành Thiện Ðộ. Trong thành ấy có cư sĩ Tỳ Sắc Chi La. Ông ấy thường cúng dường tháp của đức Chiên Ðàn Tòa Như Lai. Ngươi đến đó hỏi Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo?

Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân Bà Tu Mật Ða nữ, hữu nhiễu vô lượng vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.

Bấy giờ, Thiện Tài đi lần về phương nam, đến thành Thiện Ðộ, vào nhà cư sĩ Tỳ Sắc Chi La, đảnh lễ chân cư sĩ, chắp tay thưa rằng:

Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề, mà chưa biết Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo? Tôi nghe đức Thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho.

Cư sĩ nói:

Nầy thiện nam tử! Ta được môn Bồ tát giải thoát tên là Bất bát Niết bàn tế.

Nầy thiện nam tử! Ta chẳng nghĩ rằng: Đức Như Lai đó đã nhập Niết bàn, đức Như Lai đó hiện nhập Niết bàn, đức Như Lai đó sẽ nhập Niết bàn. Ta biết mười phương tất cả thế giới chư Phật Như Lai rốt ráo không có đức Phật nào nhập Niết bàn, chỉ trừ ra khi vì điều phục chúng sanh mà thị hiện thôi.

Nầy thiện nam tử! Lúc ta mở cửa tháp của đức Chiên Ðàn Tòa Như Lai, ta liền được tam muội tên là Phật chủng vô tận. Nầy thiện nam tử! Trong mỗi niệm ta nhập tam muội nầy, trong mỗi niệm ta biết được vô lượng sự thù thắng.

Thiện Tài thưa:

Bạch đức Thánh! Tam muội đó, cảnh giới thế nào?

Cư sĩ nói:

Nầy thiện nam tử! Ta nhập tam muội nầy, theo thứ đệ, thấy tất cả chư Phật ở thế giới nầy. Như là thấy đức Ca Diếp Phật, Câu Na Hàm Mâu Ni Phật, Câu Lưu Tôn Phật, Thi Khí Phật, Tỳ Bà Thi Phật, Ðề Xá Phật, Phất Sa Phật, Vô Thượng Thắng Phật, Vô Thượng Liên Hoa Phật. Trong khoảng một niệm, được thấy trăm đức Phật, ngàn đức Phật, thấy trăm ngàn đức Phật, thấy ức Phật, thấy ngàn ức Phật, thấy trăm ngàn ức Phật, thấy a giu đa ức Phật, thấy na do tha ức Phật. Nhẫn đến thấy bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới vi trần số Phật.

Cũng thấy chư Phật đó lúc mới phát tâm gieo những căn lành, được thắng thần thông, thành tựu đại nguyện, tu hành diệu hạnh, đủ ba la mật, nhập Bồ tát địa, được thanh tịnh nhẫn, xô dẹp quân ma thành Ðẳng Chánh Giác, quốc độ thanh tịnh, chúng hội đạo tràng, phóng đại quang minh, chuyển diệu pháp luân, thần thông biến hiện nhiều thứ sai biệt. Ta đều có thể thọ trì, có thể ghi nhớ, có thể quán sát phân biệt hiển thị tất cả.

Thuở vị lai đức Di Lặc Phật, v.v... tất cả chư Phật cũng như vậy. Hiện tại đức Tỳ Lô Giá Na Phật, v.v... tất cả chư Phật cũng như vậy. Như tại thế giới nầy, mười phương tất cả thế giới, tất cả tam thế chư Phật, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát cũng đều như vậy.

Nầy thiện nam tử! Ta chỉ được môn Bồ tát giải thoát Bất bát Niết bàn tế nầy.

Như chư đại Bồ tát dùng nhứt niệm trí biết khắp tam thế, một niệm vào khắp tất cả tam muội. Như Lai trí nhựt hằng chiếu tâm các Ngài. Nơi tất cả pháp không có phân biệt. Biết tất cả Phật thảy đều bình đẳng. Như Lai cùng ta và tất cả chúng sanh bình đẳng không sai khác. Biết tất cả pháp tự tánh thanh tịnh, không tư lự, không động chuyển, mà có thể vào khắp tất cả thế gian, lìa những phân biệt, trụ Phật pháp ấn, đều có thể khai ngộ tất cả chúng sanh… Ta thế nào biết được, nói được công đức hạnh đó.

Nầy thiện nam tử! Phương nam đây có tòa núi tên là Bổ Ðát Lạc Ca. Núi ấy có Bồ tát tên là Quán Tự Tại. Ngươi đến đó hỏi Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo?

Cư sĩ liền nói kệ rằng:

Trên biển có núi tên Thánh Hiền.

Châu báu làm thành rất thanh tịnh

Hoa quả rừng cây đều sung mãn

Suối chảy ao mát đều đầy đủ.

Dũng mãnh Trượng phu Quán Tự Tại

Vì độ chúng sanh ở núi nầy

Ngươi nên đến hỏi các công đức

Bồ tát sẽ dạy đại phương tiện.

Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân cư sĩ Tỳ Sắc Chi La, hữu nhiễu vô lượng vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.

Lúc đó, Thiện Tài đồng tử nhứt tâm tư duy lời dạy của cư sĩ. Nhập tạng Bồ tát giải thoát ấy. Ðược sức Bồ tát tùy niệm ấy. Thọ trì thứ lớp danh hiệu của chư Phật ấy. Quán sát diệu pháp của chư Phật ấy nói. Biết chư Phật ấy đầy đủ trang nghiêm. Thấy chư Phật ấy thành Ðẳng Chánh Giác. Rõ bất tư nghì nghiệp của chư Phật ấy.

Thiện Tài đi lần đến núi Phổ Ðà tìm Bồ tát Quán Tự Tại. Trong hang đá phía tây, suối chảy lóng lánh, rừng cây rậm rợp, cỏ thơm mềm nhuyễn trải mặt đất. Ðức Quán Tự Tại Bồ tát ngồi kiết già trên tảng đá kim cang bửu. Xung quanh có vô lượng Bồ tát cũng ngồi trên bửu thạch. Bồ tát Quán Tự Tại vì chúng Bồ tát mà tuyên nói pháp đại từ bi, khiến nhiếp thọ tất cả chúng sanh.

Thiện Tài xem thấy vui mừng hớn hở, chắp tay nhìn kỹ, mắt không nháy, tự nghĩ rằng: Thiện tri thức là Như Lai. Thiện tri thức là mây tất cả pháp. Thiện tri thức là tạng công đức. Thiện tri thức rất khó gặp. Thiện tri thức là nhơn duyên sanh thập lực. Thiện tri thức là đuốc trí vô tận. Thiện tri thức là mầm gốc phước đức. Thiện tri thức là cửa Nhứt thiết trí. Thiện tri thức là trí hải Ðạo sư. Thiện tri thức là công cụ trợ đạo đến Nhứt thiết trí.

Nghĩ xong, Thiện Tài đến chỗ Quán Tự Tại Bồ tát. Bồ tát thấy Thiện Tài liền nói:

Lành thay! Thiện nam tử, ngươi phát tâm Ðại thừa nhiếp khắp chúng sanh. Ngươi khởi tâm chánh trực chuyên cầu Phật pháp. Ngươi có đại bi thâm trọng cứu hộ tất cả, Phổ Hiền diệu hạnh nối tiếp hiện tiền. Ðại nguyện thâm tâm viên mãn thanh tịnh. Siêng cầu Phật pháp có thể lãnh thọ tất cả. Chứa nhóm thiện căn hằng không nhàm đủ. Ngươi thuận thiện tri thức chẳng trái lời dạy. Từ biển lớn công đức trí huệ của Văn Thù Sư Lợi mà sanh. Tâm ngươi thành thục được thế lực của Phật. Ðã được tam muội quang minh quảng đại. Chuyên tâm mong cầu diệu pháp thậm thâm. Thường thấy chư Phật tâm rất hoan hỷ. Trí huệ thanh tịnh như hư không. Ðã tự sáng tỏ lại vì người mà diễn nói. An trụ trí huệ quang minh của Như Lai.

Lúc đó, Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân Quán Tự Tại Bồ tát, hữu nhiễu vô số vòng, chắp tay
cung kính thưa rằng:

Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề, mà chưa biết Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo? Tôi nghe đức Thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho.

Bồ tát nói:

Lành thay! Lành thay! Nầy thiện nam tử! Ngươi đã có thể phát tâm Vô thượng Bồ đề.

Nầy thiện nam tử! Ta đã thành tựu Bồ tát đại bi hạnh giải thoát môn. Nầy thiện nam tử! Ta dùng môn Bồ tát đại bi hạnh nầy bình đẳng giáo hóa tất cả chúng sanh tiếp nối chẳng dứt.

Nầy thiện nam tử! Ta trụ nơi môn Đại bi hạnh nầy thường ở chỗ tất cả chư Phật, hiện khắp trước tất cả chúng sanh. Hoặc dùng bố thí, hoặc dùng ái ngữ, lợi hành, đồng sự để nhiếp thủ chúng sanh. Hoặc hiện sắc thân nhiếp thủ chúng sanh. Hoặc hiện những sắc bất tư nghì quang minh thanh tịnh để nhiếp thủ chúng sanh. Hoặc dùng âm thanh, hoặc dùng oai nghi, hoặc vì họ thuyết pháp, hoặc hiện thần biến, làm cho tâm họ tỏ ngộ mà được thành thục. Hoặc vì họ mà hiện thân đồng loại cùng họ ở chung mà thành thục họ.

Nầy thiện nam tử! Ta tu hành môn Đại bi hạnh nầy, nguyện thường cứu hộ tất cả chúng sanh, nguyện tất cả chúng sanh khỏi sợ con đường hiểm, khỏi sợ nhiệt não, khỏi sợ mê hoặc, khỏi sợ trói buộc, khỏi sợ sát hại, khỏi sợ nghèo cùng, khỏi sợ chẳng sống, khỏi sợ tiếng xấu, khỏi sợ sự chết, khỏi sợ đại chúng, khỏi sợ ác thú, khỏi sợ tối tăm, khỏi sợ dời đổi, khỏi sợ ái biệt ly, khỏi sợ oán thù gặp, khỏi sợ thân bức bách, khỏi sợ tâm bức bách, khỏi sợ lo buồn. Ta lại phát nguyện: Nguyện tất cả chúng sanh hoặc nhớ đến ta, hoặc xưng tên ta, hoặc thấy thân ta, thì đều được khỏi tất cả sự bố úy.

Nầy thiện nam tử! Ta dùng phương tiện nầy làm cho chúng sanh khỏi sự bố úy, lại dạy họ phát tâm Vô thượng Bồ đề trọn chẳng thối chuyển.

Nầy thiện nam tử! Ta chỉ được môn Bồ tát đại bi hạnh nầy. Như chư đại Bồ tát đã thanh tịnh tất cả nguyện Phổ Hiền, đã an trụ tất cả hạnh Phổ Hiền, thường thực hành tất cả thiện pháp, thường nhập tất cả tam muội, thường trụ tất cả vô biên kiếp, thường biết tất cả tam thế pháp, thường đến tất cả vô biên cõi, thường dứt tất cả chúng sanh ác, thường lớn tất cả chúng sanh thiện, thường tuyệt dòng sanh tử của chúng sanh… Ta thế nào biết được, nói được công đức hạnh đó.

Bấy giờ, phương đông có Bồ tát tên là Chánh Thu từ hư không đến thế giới Ta Bà trên đảnh núi Luân Vi sơn, Bồ tát nầy lấy chân ấn đất. Ta Bà thế giới chấn động sáu cách, biến thành thất bửu trang nghiêm.

Chánh Thu Bồ tát phóng ánh sáng nơi thân che chói tất cả mặt nhựt, mặt nguyệt. Tất cả quang minh của Thiên, Long, Bát bộ, Ðế Thích, Phạm vương, Hộ Thế đều như đống mực đen. Quang minh của Bồ tát chiếu khắp tất cả địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, Diêm La vương, làm cho chúng sanh nơi ác đạo hết khổ, chẳng khởi phiền não, đều rời lo buồn. Lại khắp tất cả Phật độ mưa tất cả hoa, hương, anh lạc, y phục, tràng phan, bửu cái, những đồ trang nghiêm để cúng dường chư Phật. Lại tùy sở thích của các chúng sanh mà hiện thân khắp trong tất cả cung điện, ai thấy cũng đều hoan hỷ. Sau đó Chánh Thu Bồ tát mới đến chỗ của Quán Tự Tại Bồ tát.

Quán Tự Tại Bồ tát bảo Thiện Tài rằng:

Ngươi thấy Chánh Thu Bồ tát đến pháp hội chăng? Ngươi nên đến hỏi Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo?

Thiện Tài đồng tử tuân lời liền đến đảnh lễ chân Chánh Thu Bồ tát, chắp tay cung kính thưa rằng:

Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm Vô thượng
Bồ đề mà chưa biết Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo? Tôi nghe đức Thánh khéo dạy bảo. Xin chỉ dạy cho.

Chánh Thu Bồ tát nói:

Nầy thiện nam tử! Ta được Bồ tát giải thoát môn tên là Phổ môn tốc tật hành.

Thiện Tài thưa:

Bạch đức Thánh! Nơi đức Phật nào được pháp môn nầy? Cõi của đức Thánh cách đây bao xa? Từ đó đến đây bao lâu?

Chánh Thu Bồ tát nói:

Nầy thiện nam tử! Việc nầy khó biết. Tất cả thế gian không thể rõ được. Chỉ trừ chư Bồ tát dũng mãnh tinh tấn không thối không khiếp, đã được tất cả thiện hữu nhiếp thọ, chư Phật hộ niệm, thiện căn đầy đủ, chí nguyện thanh tịnh, được căn Bồ tát, có mắt trí huệ, có thể nghe, có thể thọ trì, có thể hiểu, có thể nói.

Thiện Tài thưa:

Bạch đức Thánh! Tôi thừa thần lực của Phật, của thiện tri thức, có thể tin có thể thọ. Xin Bồ tát nói cho.

Bồ tát nói:

Nầy thiện nam tử! Ta từ đông phương Diệu
Tạng thế giới chỗ đức Phổ Thắng Sanh Phật mà đến cõi nầy. Ta được pháp môn nầy ở tại đức Phật ấy. Từ cõi ấy đến đây đã trải qua bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số kiếp. Trong khoảng mỗi niệm cất bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số bước. Mỗi bước qua khỏi bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số cõi Phật. Mỗi cõi Phật, ta đều vào khắp, đến chỗ Phật ngự để cúng dường. Những đồ cúng nầy đều do tâm vô thượng làm thành, pháp vô tác ấn nên, chư Như Lai hứa khả, chư Bồ tát khen ngợi.

Nầy thiện nam tử! Ta lại thấy khắp tất cả chúng sanh trong những thế giới ấy, đều biết tâm của họ, đều biết căn của họ, theo chỗ hiểu của họ mà hiện thân thuyết pháp. Hoặc phóng quang minh, hoặc ban cho của báu, dùng nhiều phương tiện giáo hóa điều phục không thôi nghỉ. Như ở phương đông, chín phương kia cũng như vậy.

Nầy thiện nam tử! Ta chỉ được môn Giải thoát Bồ tát phổ tật hành nầy, có thể mau chóng đến tất cả xứ. Như chư đại Bồ tát, khắp mười phương không chỗ nào chẳng đến. Trí huệ cảnh giới đồng nhau không khác. Khéo bủa thân mình khắp pháp giới. Ðến tất cả đạo, vào tất cả cõi, biết tất cả pháp, đến tất cả thế, bình đẳng diễn thuyết tất cả pháp môn. Ðồng thời chiếu diệu tất cả chúng sanh. Ðối với chư Phật chẳng sanh phân biệt. Với tất cả chỗ không bị chướng ngại… Ta thế nào biết được, nói được công đức hạnh đó.

Nầy thiện nam tử! Phương nam đây có thành tên là Ðọa La Bát Ðể. Trong thành có vị Thần tên là Đại Thiên. Ngươi đến đó hỏi Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo?

Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân Chánh Thu Bồ tát, hữu nhiễu vô số vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.

Bấy giờ, Thiện Tài nhập Bồ tát quảng đại hạnh, cầu Bồ tát trí huệ cảnh, thấy Bồ tát thần thông sự, niệm Bồ tát thắng công đức, sanh Bồ tát đại hoan hỷ, khởi Bồ tát kiên tinh tấn, nhập Bồ tát bất tư nghì tự tại giải thoát, hành Bồ tát công đức, quán Bồ tát tam muội, trụ Bồ tát tổng trì, nhập Bồ tát đại nguyện, được Bồ tát biện tài, thành Bồ tát lực.

Thiện Tài đi lần đến thành Ðọa La Bát Ðể tìm đến đảnh lễ chân Thần Ðại Thiên, chắp tay cung kính thưa rằng:

Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề, mà chưa biết Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo? Tôi nghe đức Thánh khéo dạy bảo. Xin chỉ dạy cho.

Lúc đó, Ðại Thiên đưa bốn tay hứng lấy nước tứ đại hải rửa mặt mình, cầm bông vàng rải trên mình Thiện Tài mà bảo rằng:

Nầy thiện nam tử! Tất cả Bồ tát khó được thấy, khó được nghe, ít hiện ra thế gian, là đệ nhứt trong các chúng sanh, là bạch Liên hoa trong loài người. Là chỗ nương về của chúng sanh, là chỗ cứu hộ của chúng sanh. Là chỗ an ổn của các thế gian. Là đại quang minh của các thế gian. Chỉ đường chánh an ổn cho kẻ mê lầm. Là đại Đạo sư dẫn các chúng sanh nhập Phật pháp môn. Là đại pháp tướng giỏi thủ hộ thành Nhứt thiết trí. Bồ tát như vậy rất khó gặp gỡ được. Chỉ có người thân, khẩu, ý ba nghiệp không lỗi mới thấy được hình tượng của chư Bồ tát và nghe biện tài của các Ngài thuyết pháp, tất cả thời gian thường hiện ra trước.

Nầy thiện nam tử! Ta đã thành tựu Bồ tát giải thoát tên là Vân võng.

Thiện Tài thưa:

Bạch đức Thánh! Cảnh giới của Vân võng giải thoát thế nào?

Lúc đó, Ðại Thiên, ở trước Thiện Tài, thị hiện đống vàng, đống bạc, đống lưu ly, đống pha lê, đống xa cừ, đống mã não, đống hỏa diệm bửu, đống ly cấu tạng bửu, đống đại quang minh bửu, đống phổ hiện thập phương bửu, đống bửu quan, đống bửu ấn, đống bửu anh lạc, đống khoen tai báu, đống bửu xuyến, đống vòng đeo tay báu, đống bửu châu võng, đống ma ni bửu, đống tất cả đồ trang nghiêm, đống như ý ma ni. Tất cả đếu lớn như núi to. Ðại Thiên lại thị hiện tất cả hoa, tất cả tràng hoa, tất cả hương, tất cả hương đốt, tất cả hương thoa, tất cả y phục, tất cả tràng phan, tất cả âm nhạc, tất cả đồ vui ngũ dục. Mỗi mỗi đều chứa cao như núi. Lại hiện vô số trăm ngàn vạn ức chúng đồng nữ.

Ðại Thiên bảo Thiện Tài rằng:

Nầy thiện nam tử! Nên đem những vật nầy cúng dường đức Như Lai, tu các phước đức và thí cho chúng sanh để nhiếp thủ họ, cho họ tu học đàn ba la mật, có thể xả được thứ khó xả.

Nầy thiện nam tử! Như ta vì ngươi mà thị hiện những vật nầy, dạy ngươi làm việc bố thí, ta vì chúng sanh khác cũng như vậy. Ðều khiến dùng thiện căn nầy để huân tập, cung kính cúng dường Tam Bảo và thiện tri thức, thêm lớn pháp lành, phát tâm Vô thượng Bồ đề.

Nầy thiện nam tử! Nếu có chúng sanh tham chấp ngũ dục tự phóng dật, thì ta vì họ mà thị hiện cảnh giới bất tịnh. Nếu có chúng sanh sân hận kiêu mạn nhiều cạnh tranh, thì ta vì họ mà thị hiện thân hình rất đáng sợ như La sát uống huyết ăn thịt, v.v… cho họ xem thấy mà kinh hãi, tâm ý điều nhu rời bỏ thù oán. Nếu có chúng sanh hôn trầm lười biếng, thì ta vì họ mà thị hiện những nạn vua, giặc, nước, lửa và các bịnh tật, cho họ kinh sợ biết khổ lo để họ tự cố gắng. Ta dùng những phương tiện như vậy, khiến chúng sanh bỏ những hạnh bất thiện mà tu pháp lành, trừ tất cả chướng ba la mật để đầy đủ ba la mật. Khiến họ vượt khỏi tất cả đường hiểm chướng ngại mà đến chỗ vô ngại.

Nầy thiện nam tử! Ta chỉ biết môn giải thoát Vân võng nầy. Như chư đại Bồ tát dường như Ðế Thích đã có thể dẹp trừ tất cả quân A tu la phiền não. Dường như đại thủy có thể khắp tiêu diệt lửa phiền não của tất cả chúng sanh. Dường như lửa mạnh có thể khô cạn nước ái dục của tất cả chúng sanh. Dường như đại phong có thể thổi ngã tràng kiến thủ của tất cả chúng sanh. Dường như kim cang có thể phá vỡ núi ngã kiến của tất cả chúng sanh… Ta thế nào biết được, nói được hết công đức diệu hạnh đó.

Nầy thiện nam tử! Ở nước Ma Kiệt Ðà, trong Bồ Đề Tràng có Chủ Địa Thần tên là An Trụ. Ngươi đến đó hỏi Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh,
thế nào tu Bồ tát đạo?

Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân Thần Ðại Thiên, hữu nhiễu vô số vòng, từ tạ mà đi.

Thiện Tài qua nước Ma Kiệt Ðà nơi Bồ Ðề Tràng, chỗ của Ðịa Thần An Trụ cùng ở với trăm vạn Địa Thần.

Chư Thần bảo nhau:

Ðồng tử đến kia chính là Phật tạng. Tất sẽ vì khắp tất cả chúng sanh mà làm chỗ sở y. Tất đã khắp phá vỡ lốt vỏ vô minh của tất cả chúng sanh. Người nầy đã sanh trong dòng Pháp Vương. Sẽ dùng lụa pháp vô ngại ly cấu để vấn đầu. Sẽ mở kho trí huệ trân bửu lớn. Sẽ xô dẹp tất cả tà luận dị đạo.

Lúc đó, An Trụ và trăm vạn Ðịa Thần phóng quang minh lớn chiếu khắp cõi Đại thiên. Làm khắp đại địa đồng thời chấn động. Nơi nơi trang nghiêm với những bửu vật chói sáng lẫn nhau. Tất cả lá cây đồng thời sanh lớn, tất cả bông đồng thời đua nở, tất cả trái đồng thời chín, tất cả dòng nước chảy rót lẫn nhau, tất cả ao đầm đều đầy nước. Trời mưa nước thơm rửa khắp mặt đất, gió thổi rải hoa khắp nơi. Vô số âm nhạc đồng thời trỗi. Ðồ trang nghiêm đều vang tiếng diệu. Những ngưu vương, tượng vương, sư tử vương, v.v… đều vui mừng nhảy nhót rống gầm như núi to chạm nhau vang tiếng lớn. Trăm ngàn tạng báu tự nhiên hiện lên.

An Trụ Ðịa Thần bảo Thiện Tài:

Lành thay đồng tử! Tại chỗ nầy ngươi đã từng gieo thiện căn. Ta vì ngươi mà hiện. Ngươi muốn thấy chăng?

Thiện Tài liền đảnh lễ chân Ðịa Thần, hữu nhiễu vô số vòng, chắp tay cung kính thưa rằng:

Bạch đức Thánh! Tôi muốn được thấy.

Ðịa Thần lấy chân ấn đất, trăm ngàn ức vô số bửu tạng tự nhiên trồi lên. Rồi bảo rằng:

Nầy thiện nam tử! Những bửu tàng nầy theo ngươi luôn. Ðây là quả báo do thiện căn thuở xưa của ngươi. Ðây là phước lực của ngươi nhiếp thọ. Ngươi nên tùy ý tự tại thọ dụng.

Nầy thiện nam tử! Ta được Bồ tát giải thoát tên là Bất khả hoại trí huệ tạng, ta thường dùng pháp nầy để thành tựu chúng sanh.

Nầy thiện nam tử! Ta nhớ từ Phật Nhiên Ðăng đến nay, ta thường theo Bồ tát cung kính thủ hộ, quán sát Bồ tát chỗ có những tâm hành, cảnh giới trí huệ, tất cả thệ nguyện, những hạnh thanh tịnh, tất cả tam muội, thần thông quảng đại, thần lực tự tại, những pháp bất hoại, qua khắp tất cả Phật độ, được khắp tất cả Như Lai thọ ký, chuyển pháp luân của tất cả chư Phật, diễn rộng tất cả môn Tu đa la, đại pháp quang minh soi sáng khắp nơi, giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh, thị hiện thần biến của tất cả chư Phật. Tất cả những công đức như trên của Bồ tát ta đều có thể lãnh thọ, đều có thể ghi nhớ.

Nầy thiện nam tử! Thuở xưa quá Tu Di sơn vi trần số kiếp, có một kiếp tên Trang Nghiêm, thế giới tên Nguyệt Tràng, Phật hiệu Diệu Nhãn. Chánh ở chỗ đức Phật Diệu Nhãn mà ta được pháp môn nầy.

Nầy thiện nam tử! Ta ở nơi pháp môn nầy, hoặc nhập, hoặc xuất, tu tập tăng trưởng thường thấy chư Phật chưa từng bỏ rời. Từ lúc mới được, nhẫn đến hiền kiếp nầy, khoảng thời gian đó ta gặp bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số Như Lai Ðẳng Chánh Giác. Ta đều phụng thờ cung kính cúng dường. Ta cũng thấy chư Phật ngồi tòa Bồ đề hiện đại thần lực. Cũng thấy những công đức thiện căn của chư Phật.

Nầy thiện nam tử! Ta chỉ biết pháp môn Bất khả hoại trí huệ tạng nầy. Như chư đại Bồ tát thường theo chư Phật, có thể thọ trì tất cả lời dạy của chư Phật, vào trí huệ thậm thâm của chư Phật, mỗi niệm đầy khắp tất cả pháp giới, đồng thân Như Lai, sanh tâm chư Phật, đủ pháp chư Phật, làm những Phật sự… Ta thế nào biết được, nói được hết công đức diệu hạnh đó.

Nầy thiện nam tử! Trong thành Ca Tỳ La có Chủ Dạ Thần tên là Bà San Bà Diễn Ðể. Ngươi đến đó hỏi Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo?

Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân Ðịa Thần, hữu nhiễu vô số vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.

Bấy giờ, Thiện Tài nhứt tâm tư duy lời dạy của An Trụ Ðịa Thần, ghi nhớ môn Bồ tát bất khả hoại trí tạng giải thoát, tu tam muội đó, học quỹ tắc đó, quán sát thần thông du hý đó, nhập vi diệu đó, được trí huệ đó, đạt bình đẳng đó, biết vô biên đó, lường thậm thâm đó.

Ði lần đến thành Ca Tỳ La vào cửa đông, Thiện Tài đứng chờ chẳng bao lâu thì trời tối. Thiện Tài tâm niệm tùy thuận lời dạy của chư Bồ tát, khát ngưỡng muốn được thấy Chủ Dạ Thần. Nơi thiện tri thức tưởng như Phật. Thiện Tài lại nghĩ rằng: Nhờ thiện tri thức mà được phổ biến nhãn, thấy rõ cảnh giới mười phương. Nhờ thiện tri thức mà được quảng đại giải thấu rõ tất cả cảnh sở duyên. Nhờ thiện tri thức mà được tam muội nhãn quán sát tất cả pháp môn. Nhờ thiện tri thức mà được trí huệ nhãn soi sáng mười phương sát hải.

Lúc suy nghĩ như vậy, Thiện Tài thấy trên hư không, Dạ Thần ngồi trên tòa hương liên hoa tạng sư tử trong bửu lâu các. Thân màu chơn kim, mắt và tóc xanh biếc, hình mạo đoan nghiêm, những chuỗi ngọc báu dùng trang sức. Thân mặc y phục đỏ, đầu đội mão Phạm Thiên. Tất cả tinh tú hiện rõ trên thân. Mỗi lỗ lông trên thân của Dạ Thần đều hiện hóa độ vô lượng vô số chúng sanh ở ác đạo, cho họ thoát khỏi thân hình hiểm nạn. Những chúng sanh nầy, hoặc sanh nhơn gian, hoặc sanh lên trời, hoặc xu hướng Nhị thừa Bồ đề, hoặc tu hành đạo Nhứt thiết trí.

Lại trong mỗi lỗ lông thị hiện những phương tiện giáo hóa: hoặc hiện thân, hoặc thuyết pháp, hoặc thị hiện đạo Thanh văn thừa, Ðộc giác thừa, Bồ tát hạnh, Bồ tát dũng mãnh, Bồ tát tam muội, Bồ tát tự tại, Bồ tát trụ xứ, Bồ tát quán sát, Bồ tát sư tử tần thân, Bồ tát giải thoát du hý. Thị hiện những phương tiện thành thục chúng sanh như vậy.

Thiện Tài thấy và nghe những sự trên đây, lòng rất vui mừng. Ðảnh lễ nơi chân Dạ Thần, hữu nhiễu vô số vòng, chắp tay cung kính thưa rằng:

Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề. Lòng tôi trông mong nương thiện tri thức để được công đức pháp tạng của Như Lai. Xin dạy cho tôi đạo Nhứt thiết trí, tôi đi trong đó đến bực Thập lực.

Dạ Thần bảo Thiện Tài rằng:

Lành thay! Lành thay! Nầy thiện nam tử! Ngươi có thể thâm tâm kính thiện tri thức, thích nghe lời dạy và tu hành theo. Do tu hành nên quyết định sẽ được Vô thượng Bồ đề.

Nầy thiện nam tử! Ta được môn giải thoát Bồ tát pháp quang minh phá tất cả chúng sanh si ám.

Nầy thiện nam tử! Ta ở nơi ác huệ chúng sanh khởi tâm đại từ, nơi chúng sanh bất thiện khởi tâm đại bi, nơi chúng sanh làm lành khởi tâm đại hỷ, nơi chúng sanh đủ hai hạnh thiện ác khởi tâm bất nhị, nơi chúng sanh tạp nhiễm ta khởi tâm làm cho họ thanh tịnh, nơi chúng sanh tà đạo ta khởi tâm làm cho họ sanh chánh hạnh, nơi chúng sanh hiểu biết kém ta khởi tâm làm cho họ được trí sáng suốt, nơi chúng sanh mến sanh tử ta khởi tâm làm cho họ bỏ luân chuyển, nơi chúng sanh an trụ Nhị thừa ta khởi tâm làm cho họ tu Nhứt thiết trí.

Nầy thiện nam tử! Vì ta được môn giải thoát
nầy nên thường tương ứng với những tâm như vậy.

Nầy thiện nam tử! Ðêm tối yên lặng, lúc quỷ thần, trộm cướp, các ác chúng sanh du hành, lúc mây kín, sương dầy, gió to mưa lớn nhựt nguyệt tinh tú đều tối tăm, thấy có các chúng sanh hoặc vào biển, hoặc đi trong lục địa, nơi núi rừng hoang vu, những chỗ hiểm nạn, hoặc gặp trộm cướp, hoặc thiếu lương thực, hoặc lạc đường, kinh hãi lo buồn không thể thoát được. Ta liền dùng nhiều phương tiện để cứu giúp họ.

Vì chúng sanh bị nạn nơi biển mà hiện làm lái thuyền, làm Ngư vương, Mã vương, Quy vương, Tượng vương, A tu la vương, Hải thần, vì họ mà ngăn mưa gió, dứt sóng mòi, dắt đường chỉ bờ cho họ thoát nạn. Nguyện đem thiện căn nầy ban cho tất cả chúng sanh đều được khỏi khổ.

Vì chúng sanh đi trong lục địa, đêm tối bị nạn mà hiện mặt nhựt, mặt nguyệt, tinh tú, ráng ban mai, chớp đêm tối, cho họ thấy ánh sáng, nhẫn đến hiện làm nhơn chúng nhà cửa, cho họ được khỏi nạn khủng bố. Nguyện đem thiện căn nầy ban cho tất cả chúng sanh thoát khỏi màn tối phiền não. Những chúng sanh tiếc thân mạng, chuộng danh tiếng, ham của báu, trọng quyền tước, đắm nam nữ, luyến thê thiếp, mà chưa toại theo sở cầu phải lo sợ, thì ta đều cứu giúp cho họ khỏi khổ.

Vì người đi trên núi hiểm mà bị nạn, thì ta làm thiện thần hiện hình thân cận, hoặc hiện làm chim đẹp kêu hót cho họ được vui, hoặc hiện làm linh dược soi sáng cho họ thấy cây trái, chỉ cho họ suối ngọt, chỉ cho họ đường sá bằng phẳng để họ thoát ách nạn.

Vì người bị nạn nơi đồng hoang rừng rậm mà hiện ra chỉ đường cho họ. Nguyện tất cả chúng sanh đốn rừng rậm kiến chấp, chặt lưới tham ái, thoát đồng sanh tử, diệt tối phiền não, vào đường bằng thẳng Nhứt thiết trí, đến chỗ vô úy rốt ráo an lạc.

Nầy thiện nam tử! Nếu có chúng sanh ham tụ lạc, mến nhà cửa mà thường ở chỗ tối tăm bị khổ, thì ta vì họ mà thuyết pháp cho họ nhàm lìa để được đầy đủ pháp lành, an trụ chánh pháp. Nguyện tất cả chúng sanh đều chẳng tham mến tụ lạc lục trần, mau được thoát khỏi cảnh giới sanh tử, rốt ráo an trụ nơi thành Nhứt thiết trí.

Nầy thiện nam tử! Nếu có chúng sanh đi đêm tối quên mất phương hướng, lạc đường lo sợ. Ta dùng phương tiện soi sáng cho họ. Nếu là người muốn ra khỏi thì ta chỉ cửa nẻo, người muốn đi thì ta chỉ đường sá, người muốn qua sông thì ta chỉ cầu đò, người muốn đi sông biển thì ta cho thuyền bè, người thích xem phương hướng thì ta chỉ cho họ chỗ an nguy hiểm dễ, người muốn nghỉ ngơi thì ta chỉ cho họ thành ấp cội cây.

Ta nghĩ rằng: Như ở tại đây ta trừ đêm tối làm cho những thế sự đều được thứ tự hiển bày. Nguyện ta dùng ánh sáng trí huệ soi rõ khắp những chỗ tối tăm vô minh, đêm dài sanh tử. Những chúng sanh không có trí nhãn bị che đậy bởi tâm tưởng kiến chấp điên đảo: Vô thường tưởng là thường, vô lạc tưởng là lạc, vô ngã tưởng là ngã, bất tịnh tưởng là tịnh, chấp chặt những ngã, nhơn, chúng sanh, uẩn, xứ, giới, mê lầm nhơn quả, chẳng biết thiện ác, sát hại chúng sanh, nhẫn đến tà kiến, chẳng hiếu với cha mẹ, chẳng kính Sa môn, Bà la môn, chẳng biết người ác, người lành, ham ác sự, trụ pháp tà, hủy báng Như Lai, phá hoại chánh pháp, sỉ nhục thương hại chư Bồ tát, khinh đạo Đại thừa, dứt tâm Bồ đề, hại người ơn, oán kẻ thù, khinh rẻ Hiền Thánh, gần gũi bạn ác, trộm vật của chùa tháp, làm tội ngũ nghịch, chẳng bao lâu sẽ bị đọa ba ác đạo. Nguyện tôi mau dùng ánh sáng đại trí phá màn tối vô minh của những chúng sanh đó, khiến họ mau phát tâm Vô thượng Bồ đề.

Họ đã phát tâm, tôi liền chỉ hạnh Phổ Hiền, mở đường Thập lực, chỉ cảnh giới Như Lai Pháp Vương, cũng hiển thị thành trì Nhứt thiết trí của chư Phật. Chư Phật thực hành, chư Phật tự tại, chư Phật thành tựu, chư Phật tổng trì, tất cả chư Phật chung đồng một thân, tất cả chư Phật bình đẳng một chỗ, đều làm cho họ được an trụ.

Nầy thiện nam tử! Tất cả chúng sanh hoặc bị bịnh buộc ràng, hoặc bị già xâm lấn, hoặc khổ vì nghèo cùng, hoặc gặp hoạn nạn, hoặc phạm pháp vua bị gia hình, ta đều cứu giúp cho họ được an ổn. Ta lại nghĩ rằng: Nguyện dùng chánh pháp nhiếp khắp chúng sanh cho họ giải thoát tất cả phiền não, sanh già bịnh chết, ưu bi khổ hoạn. Thường được gần thiện tri thức, thực hành pháp thí, siêng tu hạnh lành, mau được pháp thân thanh tịnh của Như Lai, an trụ nơi rốt ráo không biến đổi.

Nầy thiện nam tử! Tất cả chúng sanh vào rừng kiến chấp, trụ nơi đạo tà, nơi các cảnh giới khởi tà phân biệt, thân khẩu ý thường làm sự bất thiện, vọng làm những sự khổ hạnh. Nơi chẳng phải Chánh giác tưởng là Chánh giác. Nơi Chánh giác tưởng là chẳng phải Chánh giác. Bị ác tri thức nhiếp thọ. Do họ khởi ác kiến sắp đọa ác đạo, ta dùng nhiều môn phương tiện cứu hộ họ, cho họ an trụ nơi chánh kiến sanh trong nhơn Thiên.

Lại tự nghĩ rằng: Như ta cứu những chúng sanh sắp đọa ác đạo, nguyện ta cứu tất cả chúng sanh, đều làm cho họ giải thoát tất cả khổ, an trụ nơi ba la mật Thánh đạo xuất thế. Nguyện ta được chẳng thối chuyển nơi Nhứt thiết trí, đủ nguyện Phổ Hiền, gần Nhứt thiết trí, chẳng rời bỏ hạnh Bồ tát, thường siêng giáo hóa tất cả chúng sanh.

Bấy giờ, Bà San Bà Diễn Ðể Chủ Dạ Thần muốn tuyên lại nghĩa giải thoát nầy, thừa thần lực của Phật, quán sát mười phương, vì Thiện Tài đồng tử mà nói kệ rằng:

Môn giải thoát của ta

Sanh tịnh pháp quang minh

Phá được tối ngu si

Chờ thời mà diễn thuyết.

Ta từ vô biên kiếp

Siêng tu đại từ tâm

Che chở khắp thế gian

Phật tử nên tu học.

Biển đại bi tịch tịnh

Xuất sanh tam thế Phật

Hay diệt khổ chúng sanh

Ngươi nên nhập môn nầy.

Hay sanh thế gian vui

Cũng sanh vui xuất thế

Khiến lòng ta hoan hỷ

Ngươi nên nhập môn nầy.

Ðã bỏ họa hữu vi

Cũng xa Thanh văn quả

Tịnh tu chư Phật lực

Ngươi nên nhập môn nầy.

Mắt ta rất thanh tịnh

Thấy khắp mười phương cõi

Cũng thấy Phật trong đó

Ngồi dưới cây Bồ đề.

Thân tướng tốt trang nghiêm

Vô lượng chúng câu hội

Trong mỗi lỗ chân lông

Phóng ra nhiều tia sáng.

Thấy những loài quần sanh

Chết đây mà sanh kia

Luân hồi trong năm loài

Thường thọ vô lượng khổ.

Tai ta rất thanh tịnh

Nghe thấu đến mười phương

Tất cả biển ngữ ngôn

Ðều nghe hay ghi nhớ.

Chư Phật chuyển pháp luân

Tiếng Phật diệu vô tỷ

Bao nhiêu những văn tự

Ðều có thể ghi nhớ.

Mũi ta rất thanh tịnh

Nơi pháp không chướng ngại

Tất cả đều tự tại

Ngươi nên nhập môn nầy.

Lưỡi ta rất rộng dài

Sạch tốt hay nói năng

Tùy nghi diễn diệu pháp

Ngươi nên nhập môn nầy.

Thân ta rất thanh tịnh

Tam thế đồng như như

Tùy tâm các chúng sanh

Tất cả thảy đều hiện.

Tâm ta tịnh vô ngại

Như hư không chứa vật

Khắp nhớ tất cả Phật

Mà cũng chẳng phân biệt.

Biết rõ vô lượng cõi

Tất cả biển tâm tánh

Các căn và dục lạc

Mà cũng chẳng phân biệt.

Ta dùng đại thần thông

Chấn động vô lượng cõi

Thân mình đến khắp nơi

Phục chúng khó phục kia.

Phước ta rất rộng lớn

Như hư không vô tận

Cúng dường chư Như Lai

Lợi ích tất cả chúng.

Trí ta rộng thanh tịnh

Biết rõ biển các pháp

Trừ diệt chúng sanh mê

Ngươi nên nhập môn nầy.

Ta biết tam thế Phật

Và biết tất cả pháp

Cũng biết phương tiện kia

Môn nầy khắp vô thượng.

Thấy trong mỗi vi trần

Tam thế tất cả cõi

Cũng thấy chư Phật kia

Ðây là phổ môn lực.

Trong thập phương sát trần

Ðều thấy Lô Xá Na

Ngồi dưới cây Bồ đề

Thành đạo diễn diệu pháp.

Thiện Tài thưa rằng:

Ðức Thánh phát tâm Vô thượng Bồ đề được
bao lâu? Ðược môn giải thoát nầy hồi nào mà có thể lợi ích chúng sanh như vậy?

Chủ Dạ Thần nói:

Nầy thiện nam tử! Thuở xưa quá Tu Di sơn vi trần số kiếp, có một kiếp tên là Tịch Tịnh Quang, thế giới tên Xuất Sanh Diệu Bửu, có năm ức Phật xuất hiện trong đó.

Trong thế giới Xuất Sanh Diệu Bửu có tứ thiên hạ tên Bửu Nguyệt Ðăng Quang, có thành tên Liên Hoa Quang, vua hiệu Thiện Pháp Ðộ dùng pháp trị dân, đầy đủ thất bửu. Vua có phu nhơn tên là Pháp Huệ Nguyệt giữa đêm đang ngủ trên giường.

Ở phía đông thành có khu rừng lớn tên là Tịch Trụ, trong rừng có cây Bồ đề lớn tên là Nhứt Thiết Quang Ma Ni Vương Trang Nghiêm. Thân thường xuất sanh thần lực quang minh của tất cả Phật.

Bấy giờ, có đức Phật thành Ðẳng Chánh Giác dưới cây Bồ đề nầy hiệu là Nhứt Thiết Pháp Lôi Âm Vương phóng quang minh rộng lớn vô lượng màu chiếu khắp thế giới Xuất Sanh Diệu Bửu. Trong thành Liên Hoa Quang có Chủ Dạ Thần tên Tịnh Nguyệt đến cung, động chuỗi ngọc để đánh thức phu nhơn Pháp Huệ Nguyệt mà bảo rằng:

Nầy phu nhơn! Nơi rừng Tịch Trụ, đức Nhứt Thiết Pháp Lôi Âm Vương Như Lai thành Ðẳng Chánh Giác.

Dạ Thần lại vì phu nhơn mà nói công đức thần lực tự tại của Phật, hạnh nguyện của Phổ Hiền Bồ tát, cho phu nhơn phát tâm Vô thượng Bồ đề đến cúng dường Phật và chư Bồ tát cùng chúng Thanh văn.

Nầy thiện nam tử! Phu nhơn Pháp Huệ Nguyệt thuở xưa chính là tiền thân của ta. Từ thuở đó ta phát tâm Vô thượng Bồ đề gieo căn lành, trải qua Tu Di sơn vi trần số kiếp chẳng sanh trong các ác đạo, cũng chẳng sanh nơi nhà hạ tiện. Ở trong nhơn Thiên, ta được phước đức thù thắng, chẳng sanh ác thế, thường chẳng rời Phật và chư Bồ tát đại thiện tri thức mà gieo trồng căn lành. Trải qua tám mươi Tu Di sơn vi trần số kiếp thường được an lạc, mà chưa đầy đủ chư căn của Bồ tát. Lại trải qua vạn kiếp, trước hiền kiếp, có một kiếp tên là Vô Ưu Biến Chiếu, thế giới tên là Vô Cấu Diệu Quang. Trong thế giới đó tịnh uế xen lẫn, có năm trăm đức Phật xuất hiện trong đó. Ðức Phật đệ nhứt hiệu là Tu Di Tràng Tịch Tịnh Diệu Nhãn.

Lúc đó, ta là con gái của trưởng giả Danh Xưng, tên là Diệu Huệ Quang Minh, dung nhan đoan chánh. Tịnh Nguyệt Dạ Thần vì bổn nguyện mà sanh trong vương thành Diệu Trang nơi một tứ thiên hạ ở Ly Cấu thế giới, làm Chủ Dạ Thần tên là Thanh Tịnh Nhãn.

Một đêm ta nằm ngủ bên cha mẹ. Thanh Tịnh Nhãn Dạ Thần đến chấn động nhà ta, phóng quang minh hiện thân ca ngợi công đức của Phật và cho hay rằng: “Diệu Nhãn Như Lai ngồi tòa Bồ đề mới thành Chánh giác”. Dạ Thần khuyên ta cùng cha mẹ và quyến thuộc mau đến gặp Phật. Rồi Dạ Thần tự làm tiền đạo dẫn đến chỗ Phật cúng dường.

Ta vừa thấy Phật liền được tam muội tên là “Xuất sanh kiến Phật điều phục chúng sanh tam thế trí quang minh luân”. Do được tam muội nầy nên có thể nhớ Tu Di sơn vi trần số kiếp. Cũng thấy chư Phật xuất hiện trong những kiếp đó. Ta ở chỗ chư Phật nghe diệu pháp. Do nghe pháp nên được môn giải thoát Pháp quang minh phá tối của tất cả chúng sanh nầy.

Ðược môn giải thoát nầy, ta liền thấy thân mình đến Phật sát vi trần số thế giới, cũng thấy tất cả chư Phật trong những thế giới đó. Ta lại thấy thân mình ở chỗ chư Phật. Ta cũng thấy tất cả chúng sanh trong những thế giới đó, hiểu ngôn âm của họ, biết căn tánh của họ, biết họ thuở quá khứ đã từng được thiện hữu nhiếp thọ. Tùy sở thích của họ mà hiện thân cho họ hoan hỷ. Nơi môn giải thoát đã được, niệm niệm ta được tăng trưởng không ngớt. Ta lại thấy thân mình đến khắp trăm Phật sát vi trần số thế giới, tâm giải thoát kia cũng vẫn liên tục. Ta lại thấy thân mình đến khắp ngàn Phật sát, trăm ngàn Phật sát, nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số thế giới, cũng thấy tất cả Như Lai trong những thế giới đó, cũng thấy chính mình nghe chư Phật thuyết pháp, ghi nhớ thọ trì, quán sát giải quyết. Cũng biết những biển bổn sự, bổn nguyện của chư Phật đó. Chư Như Lai đó nghiêm tịnh Phật độ, ta cũng nghiêm tịnh.

Ta cũng thấy tất cả chúng sanh trong những thế giới đó, tùy cơ nghi của họ mà hiện thân giáo hóa điều phục. Trong thời gian đó, môn giải thoát nầy niệm niệm tăng trưởng. Như vậy nhẫn đến sung mãn pháp giới.

Nầy thiện nam tử! Ta chỉ biết môn “Bồ tát phá nhứt thiết chúng sanh ám pháp quang minh giải thoát”. Như chư đại Bồ tát thành tựu Phổ Hiền vô biên hạnh nguyện, vào khắp tất cả pháp giới hải, được Bồ tát kim cang trí tràng tự tại tam muội, xuất sanh đại nguyện, trụ trì Phật chủng, ở trong mỗi niệm thành mãn biển tất cả công đức lớn, nghiêm tịnh tất cả thế giới rộng lớn, dùng trí tự tại giáo hóa thành thục tất cả chúng sanh, dùng trí huệ nhật diệt trừ tất cả thế gian ám chướng, dùng trí dũng mãnh giác ngộ giấc ngủ của tất cả chúng sanh, dùng trí huệ nguyệt quyết rõ sự nghi hoặc của tất cả chúng sanh, dùng thanh tịnh âm dứt trừ tất cả sự chấp trước hữu lậu, thị hiện tất cả thần lực tự tại trong mỗi vi trần nơi tất cả pháp giới, trí nhãn thanh tịnh thấy khắp tam thế… Ta thế nào biết được diệu hạnh đó, nói được công đức đó, vào được cảnh giới đó, thị hiện được tự tại đó.

Nầy thiện nam tử! Trong Bồ đề tràng đây có Chủ Dạ Thần tên là Phổ Ðức Tịnh Quang. Ta vốn từ thần đó phát tâm Vô thượng Bồ đề, thường dùng diệu pháp khai ngộ cho ta. Ngươi đến đó hỏi Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, tu Bồ tát đạo?

Thiện Tài đồng tử cung kính hướng về Dạ Thần Bà San Bà Diễn Ðể mà nói kệ rằng:

Thấy Ngài thân thanh tịnh

Tướng hảo hơn thế gian,

Như Văn Thù Sư Lợi

Cũng như Bửu sơn vương.

Pháp thân Ngài thanh tịnh

Tam thế đều bình đẳng

Vào tất cả thế giới

Thành hoại không chướng ngại.

Tôi xem tất cả loài

Ðều thấy hình tượng Ngài

Trong mỗi mỗi lỗ lông

Tinh nguyệt đều phân bố.

Tâm Ngài rất quảng đại

Như hư không mười phương

Chư Phật đều vào trong

Thanh tịnh vô phân biệt.

Trong mỗi mỗi lỗ lông

Ðều phóng vô số quang

Chỗ chư Phật mười phương

Khắp rưới đồ trang nghiêm.

Trong mỗi mỗi lỗ lông

Ðều hiện vô số thân

Khắp quốc độ mười phương

Phương tiện độ chúng sanh.

Trong mỗi mỗi lỗ lông

Thị hiện vô lượng cõi

Tùy sở thích chúng sanh

Cho họ được thanh tịnh.

Nếu có các chúng sanh

Nghe danh và thấy thân

Ðều được công đức lợi

Thành tựu Bồ đề đạo.

Nhiều kiếp ở ác đạo

Mới được thấy nghe Ngài

Cũng nên hoan hỷ thọ

Vì để diệt phiền não.

Ngàn cõi vi trần kiếp

Khen Ngài chút công đức,

Kiếp số có cùng tận

Ðức Ngài không cùng tận.

Thiện Tài nói kệ xong, đảnh lễ nơi chân Dạ Thần, hữu nhiễu vô lượng vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.

*Lúc đó, Thiện Tài biết rõ Dạ Thần Bà San Bà Diễn Ðể khi mới phát tâm Vô thượng Bồ đề, phát sanh Bồ tát tạng, thệ phát Bồ tát nguyện, thanh tịnh Bồ tát độ, nhập Bồ tát địa, tu Bồ tát hạnh, hành xuất ly đạo, quang minh Nhứt thiết trí, tâm cứu khắp chúng sanh, nổi mây đại bi khắp nơi, thường có thể xuất sanh hạnh nguyện Phổ Hiền tận thuở vị lai nơi tất cả Phật độ.

Thiện Tài đi lần đến chỗ Dạ Thần Phổ Ðức Tịnh Quang, đảnh lễ nơi chân, hữu nhiễu vô số vòng, chắp tay cung kính thưa rằng:

Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề mà chưa biết Bồ tát thế nào tu Bồ tát địa, thế nào xuất sanh Bồ tát địa, thế nào thành tựu Bồ tát địa?

Dạ thần nói:

Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử đã có thể phát tâm Vô thượng Bồ đề. Nay lại hỏi tu hành xuất sanh và thành tựu Bồ tát địa.

Nầy thiện nam tử! Bồ tát thành tựu mười pháp thì có thể viên mãn Bồ tát hạnh:

Một là được thanh tịnh tam muội thường thấy chư Phật.

Hai là được thanh tịnh nhãn thường xem tướng hảo trang nghiêm của chư Phật.

Ba là biết tất cả Như Lai vô lượng vô biên công đức đại hải.

Bốn là biết vô lượng Phật pháp quang minh hải khắp pháp giới.

Năm là biết tất cả Như Lai, mỗi mỗi lỗ lông phóng đại quang minh hải đồng số chúng sanh lợi ích tất cả chúng sanh.

Sáu là thấy tất cả Như Lai, mỗi lỗ lông phóng ra quang minh diệm hải đủ tất cả bửu sắc.

Bảy là trong mỗi niệm xuất hiện tất cả Phật
biến hóa hải đầy khắp pháp giới, rốt ráo tất cả cảnh giới chư Phật điều phục chúng sanh.

Tám là được Phật âm thanh đồng tất cả chúng sanh ngôn âm hải, chuyển pháp luân tam thế Phật.

Chín là biết tất cả Phật vô biên danh hiệu hải.

Mười là biết tất cả chư Phật bất tư nghì tự tại lực điều phục chúng sanh.

Nầy thiện nam tử! Bồ tát thành tựu mười pháp nầy thì có thể viên mãn công hạnh Bồ tát.

Nầy thiện nam tử! Ta được Bồ tát giải thoát tên là “Tịch tịnh thiền định lạc phổ du bộ”, thấy khắp tất cả chư Phật tam thế, cũng thấy nơi chư Phật đó: Quốc độ thanh tịnh, đạo tràng, chúng hội, thần thông, danh hiệu, thuyết pháp, thọ mạng, ngôn âm, thân tướng… nhiều loại chẳng đồng, tất cả ta đều thấy rõ mà không chấp lấy. Tại sao vậy?

Vì biết rằng: Đức Như Lai chẳng phải đi, vì đã diệt hẳn thời gian, không gian. Đức Như Lai chẳng phải đến, vì thể tánh vô sanh. Ðức Như Lai chẳng phải sanh, vì pháp thân bình đẳng. Ðức Như Lai chẳng phải diệt, vì không có tướng sanh. Ðức Như Lai chẳng phải thiệt, vì an trụ pháp như huyễn. Ðức Như Lai chẳng phải vọng, vì lợi ích chúng sanh. Ðức Như Lai chẳng phải dời đổi, vì vượt khỏi sanh tử. Ðức Như Lai chẳng phải hư hoại, vì tánh thường chẳng biến đổi. Ðức Như Lai một tướng, vì đều rời ngôn ngữ. Ðức Như Lai vô tướng, vì tánh tướng vốn không.

Nầy thiện nam tử! Lúc ta biết rõ tất cả Như Lai như vậy, nơi môn giải thoát “Bồ tát tịch tịnh thiền định lạc phổ du bộ” tỏ thấu rõ ràng, thành tựu tăng trưởng, tư duy quán sát, kiên cố trang nghiêm, chẳng khởi tất cả vọng tưởng phân biệt, đại bi cứu hộ tất cả chúng sanh. Nhứt tâm chẳng động: Tu tập Sơ thiền, dứt tất cả ý nghiệp, nhiếp tất cả chúng sanh, trí lực dũng mãnh, hỷ tâm vui vẻ. Tu đệ Nhị thiền, tư duy tất cả chúng sanh tự tánh, nhàm lìa sanh tử. Tu đệ Tam thiền, đều có thể dứt diệt những khổ nhiệt não của tất cả chúng sanh. Tu đệ Tứ thiền, tăng trưởng viên mãn nguyện Nhứt thiết trí, xuất sanh tất cả những biển tam muội. Nhập những Bồ tát giải thoát môn, du hý tất cả thần thông, thành tựu tất cả biến hóa, dùng trí thanh tịnh vào khắp pháp giới.

Nầy thiện nam tử! Lúc ta tu môn giải thoát nầy dùng các thứ phương tiện để thành tựu chúng sanh. Như là đối với người tại gia phóng dật, làm cho họ có cảm tưởng bất tịnh, đáng nhàm lìa, mỏi nhọc, bức bách, ràng buộc, họa hại, vô thường, khổ, vô ngã, rỗng không, vô sanh, chẳng tự tại, già bịnh chết… để cho họ ở nơi cảnh ngũ dục tự chẳng mến chấp và cũng khuyên người khác chẳng đắm nơi dục lạc, chỉ an trụ nơi pháp lạc, ra khỏi nhà hữu vi mà vào nhà vô vi. Nếu có chúng sanh ở nơi chỗ không nhàn, thì ta vì họ mà ngăn dứt những âm thanh xấu ác. Lúc đêm vắng tịch tịnh ta vì họ mà thuyết pháp. Ban cho họ duyên tu hành thuận tiện, mở cửa xuất gia, chỉ đường chơn chánh. Vì họ mà làm ánh sáng trừ ám chướng, diệt kinh sợ, khen hạnh xuất gia, ca ngợi Phật, Pháp và Tăng cùng thiện tri thức đủ những công đức, cũng khen hạnh gần gũi thiện tri thức.

Lại nầy thiện nam tử! Lúc ta tu môn giải thoát, làm cho các chúng sanh chẳng khởi lòng tham phi pháp, chẳng khởi tà kiến, chẳng phạm tội ác, nếu đã làm ác thì khiến thôi dứt. Nếu chưa sanh pháp lành, chưa tu hạnh ba la mật, chưa cầu Nhứt thiết trí, chưa khởi đại từ bi, chưa tạo nghiệp nhơn Thiên thì đều làm cho phát sanh, nếu đã sanh rồi thì làm cho thêm lớn. Ta ban cho họ nhơn duyên thuận đạo như vậy, nhẫn đến khiến họ thành Nhứt thiết chủng trí.

Nầy thiện nam tử! Ta chỉ được môn giải thoát “Bồ tát tịch tịnh thiền định lạc phổ du bộ” nầy. Như chư đại Bồ tát đầy đủ hạnh nguyện Phổ Hiền, liễu đạt tất cả vô biên pháp giới, thường có thể tăng trưởng tất cả thiện căn, chiếu thấy trí lực của tất cả Như Lai, an trụ nơi cảnh giới của tất cả Như Lai, hằng ở sanh tử tâm không chướng ngại, mau đầy đủ được nguyện Nhứt thiết trí, đến tất cả thế giới, đều có thể xem thấy tất cả chư Phật, có thể khắp thính thọ tất cả Phật pháp, có thể phá tất cả si ám của chúng sanh, có thể ở trong đêm dài sanh tử mà xuất sanh tất cả trí huệ quang minh… Ta thế nào biết được, nói được những công đức hạnh đó.

Nầy thiện nam tử! Cách đây không xa, nơi bên phía hữu đạo tràng Bồ đề, có một Dạ Thần tên là Hỷ Mục Quán Sát Chúng Sanh. Ngươi đến đó hỏi Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, tu Bồ tát đạo?

Phổ Ðức Tịnh Quang Dạ Thần muốn tuyên lại nghĩa giải thoát nầy, vì Thiện Tài đồng tử mà nói kệ rằng:

Nếu có lòng tin hiểu

Thấy hết tam thế Phật

Người nầy mắt thanh tịnh

Vào được biển chư Phật.

Người xem thân chư Phật

Tướng thanh tịnh trang nghiêm

Một niệm sức thần thông

Ðều sung mãn pháp giới.

Lô Xá Na Như Lai

Ðạo tràng thành Chánh giác

Trong tất cả pháp giới

Chuyển pháp luân thanh tịnh.

Như Lai biết pháp tánh

Tịch diệt không có hai

Tướng thanh tịnh nghiêm thân

Hiện khắp các thế gian.

Thân Phật bất tư nghì

Pháp giới đều sung mãn

Hiện khắp tất cả cõi

Tất cả đều thấy rõ.

Thân Phật thường quang minh

Những màu sắc thanh tịnh

Số Phật sát vi trần

Niệm niệm khắp pháp giới.

Như Lai một lỗ lông

Phóng bất tư nghì quang

Chiếu khắp các quần sanh

Cho họ diệt phiền não.

Như Lai một lỗ lông

Xuất sanh vô tận hóa

Ðầy khắp cả pháp giới

Diệt trừ khổ chúng sanh.

Phật diễn một diệu âm

Tùy loại đều tự hiểu

Khắp mưa pháp quảng đại

Khiến phát tâm Bồ đề.

Phật xưa tu các hạnh

Ðã từng nhiếp thọ ta

Nên được thấy Như Lai

Hiện khắp tất cả cõi.

Chư Phật xuất thế gian

Lượng bằng số chúng sanh

Tất cả cảnh giải thoát

Chẳng phải ta biết được.

Tất cả đại Bồ tát

Vào một lỗ lông Phật

Diệu giải thoát như vậy

Chẳng phải ta biết được.

Gần đây có Dạ Thần

Tên Hỷ Mục Quán Sát

Ngươi nên đến đó hỏi

Học tu Bồ tát hạnh.

Thiện Tài đảnh lễ chân Dạ Thần Phổ Ðức Tịnh Quang, hữu nhiễu vô số vòng ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.

Bấy giờ, Thiện Tài kính thuận lời dạy của thiện tri thức, thực hành theo lời thiện tri thức, tự nghĩ rằng: Khó thấy, khó gặp thiện tri thức. Thấy thiện tri thức thì tâm chẳng tán loạn. Thấy thiện tri thức thì phá núi chướng ngại. Thấy thiện tri thức thì vào biển đại bi cứu hộ chúng sanh. Thấy thiện tri thức thì được trí huệ quang chiếu khắp pháp giới. Thấy thiện tri thức thì có thể tu hành đạo Nhứt thiết trí. Thấy thiện tri thức thì có thể thấy khắp mười phương chư Phật. Thấy thiện tri thức thì được thấy chư Phật chuyển pháp luân ghi nhớ chẳng quên.

Suy nghĩ như vậy, Thiện Tài muốn đến chỗ Dạ Thần Hỷ Mục Quán Sát Chúng Sanh.

Lúc đó, Hỷ Mục Dạ Thần gia hộ cho Thiện Tài biết thân cận thiện tri thức có thể sanh những thiện căn và tăng trưởng thành thục. Như là làm cho Thiện Tài biết thân cận thiện tri thức thì có thể tu các môn trợ đạo. Biết thân cận thiện tri thức thì có thể khởi tâm dũng mãnh. Biết thân cận thiện tri thức thì có thể tạo công hạnh không hư hoại. Biết thân cận thiện tri thức thì có thể được sức không bị chế phục. Biết thân cận thiện tri thức thì có thể nhập vô biên phương. Biết thân cận thiện tri thức thì có thể tu hành lâu xa. Biết thân cận thiện tri thức thì có thể làm xong vô biên công hạnh. Biết thân cận thiện tri thức thì có thể thực hành vô lượng đạo. Biết thân cận thiện tri thức thì được sức tốc tật đến khắp các cõi. Biết thân cận thiện tri thức thì có thể chẳng rời bổn xứ mà đến khắp mười phương.

Lúc đó, Thiện Tài liền phát ý nghĩ rằng: Do thân cận thiện tri thức mà có thể dũng mãnh siêng tu Nhứt thiết trí đạo. Do thân cận thiện tri thức mà có thể mau xuất sanh những đại nguyện. Do thân cận thiện tri thức mà có thể vì chúng sanh thọ vô biên khổ tận kiếp vị lai. Do thân cận thiện tri thức mà có thể mặc áo giáp đại tinh tấn, trong một vi trần thuyết pháp tiếng vang khắp pháp giới. Do thân cận thiện tri thức mà có thể mau đến tất cả phương. Do thân cận thiện tri thức mà ở trong một sợi lông tu Bồ tát hạnh tận vị lai kiếp. Do thân cận thiện tri thức mà trong mỗi niệm thực hành Bồ tát hạnh rốt ráo an trụ bực Nhứt thiết trí. Do thân cận thiện tri thức mà có thể nhập những đạo trang nghiêm thần lực tự tại của tất cả Như Lai. Do thân cận thiện tri thức mà có thể thường vào khắp các môn pháp giới. Do thân cận thiện tri thức nên thường duyên với pháp giới, dầu chưa từng động xuất mà có thể qua khắp quốc độ mười phương.

Sau khi phát ý nghĩ như vậy, Thiện Tài đến
chỗ Dạ Thần Hỷ Mục.

Thấy Dạ Thần nầy ở trong chúng hội đạo tràng của đức Như Lai, ngồi trên tòa sư tử tiên hoa tạng, nhập đại thế lực phổ hỷ tràng giải thoát. Ở trên thân của Dạ Thần, mỗi lỗ lông phát ra vô lượng thân biến hóa, tùy theo cơ nghi dùng âm thanh vi diệu để vì họ thuyết pháp, nhiếp khắp tất cả chúng sanh đều làm cho họ hoan hỷ được lợi ích. Như là: Hiện ra vô lượng hóa thân sung mãn tất cả thế giới mười phương, diễn nói những Bồ tát hạnh Đàn ba la mật, nơi tất cả sự đều không luyến mến, đối với tất cả chúng sanh đều khắp bố thí với tâm bình đẳng không có khinh mạn, trong ngoài đều đem cho, có thể xả được thứ khó xả.

Hiện ra vô lượng hóa thân bằng số chúng sanh đầy khắp pháp giới ở trước chúng sanh mà diễn nói trì tịnh giới không khuyết phạm, tu những khổ hạnh đều đầy đủ cả, không y tựa các thế gian, không ái nhiễm những cảnh giới. Nói sự qua lại trong sanh tử luân hồi. Nói hàng nhơn Thiên thạnh, suy, khổ, vui. Nói các cảnh giới đều là bất tịnh. Nói tất cả pháp đều vô thường. Nói tất cả hành pháp đều khổ vô vị. Nói như vậy để làm cho các thế gian rời bỏ điên đảo an trụ nơi cảnh giới Phật, trì giới pháp của Như Lai. Diễn nói những giới hạnh như vậy, giới hương xông khắp làm cho
các chúng sanh đều được thành thục.

Lại hiện ra vô lượng thân bằng số chúng sanh diễn nói nhẫn thọ được tất cả sự khổ. Như là bị cắt chém, đánh đập, mắng nhiếc, sỉ nhục, mà tâm vẫn thơ thới chẳng động, chẳng loạn; với tất cả công hạnh, chẳng quan niệm thấp cao; với tất cả chúng sanh chẳng có ý nghĩ ngã mạn; với các pháp tánh thì an trụ nhẫn thọ. Diễn nói tâm Bồ đề không cùng tận, vì tâm vô tận nên trí cũng vô tận, dứt phiền não của khắp tất cả chúng sanh. Diễn nói thân của chúng sanh chẳng hoàn cụ, ty tiện, xấu xí cho họ nhàm lìa; khen ngợi thân diệu sắc thanh tịnh vô thượng của Như Lai cho họ ham mến. Dùng những phương tiện như vậy để thành thục chúng sanh.

Lại hiện ra vô lượng thân đồng với số chúng sanh, tùy theo tâm sở thích của chúng sanh mà nói dũng mãnh tinh tấn tu tập pháp trợ đạo Nhứt thiết trí. Dũng mãnh tinh tấn hàng phục quân ma. Dũng mãnh tinh tấn phát Bồ đề tâm chẳng động chẳng thối. Dũng mãnh tinh tấn độ tất cả chúng sanh ra khỏi biển sanh tử. Dũng mãnh tinh tấn trừ diệt tất cả nạn ác đạo. Dũng mãnh tinh tấn phá vỡ núi vô trí. Dũng mãnh tinh tấn cúng dường tất cả chư Phật Như Lai không nhàm mỏi. Dũng mãnh tinh tấn thọ trì tất cả pháp luân của chư Phật. Dũng mãnh tinh tấn làm tan tất cả mức chướng ngại. Dũng mãnh tinh tấn giáo hóa thành thục tất cả chúng sanh. Dũng mãnh tinh tấn nghiêm tịnh tất cả Phật độ. Dùng những phương tiện như vậy để thành thục chúng sanh.

Lại hiện ra vô lượng thân, dùng nhiều phương tiện làm cho các chúng sanh có lòng hoan hỷ bỏ ác niệm, nhàm dục lạc. Diễn nói sự hổ thẹn, cho chúng sanh che giấu các căn. Diễn nói Phạm hạnh thanh tịnh vô thượng. Diễn nói Dục giới là cảnh của ma, cho họ kinh sợ. Vì họ mà hiện chẳng thích dục lạc của thế gian để an trụ nơi pháp lạc, theo thứ đệ nhập các thiền định, các tam muội. Khiến họ tư duy quán sát diệt trừ tất cả phiền não. Lại diễn nói những môn tam muội thần lực biến hiện tự tại du hý của Bồ tát, cho các chúng sanh hoan hỷ thích thú, rời sự lo sợ, tâm được thanh tịnh, căn tánh mãnh lợi, mến trọng chánh pháp tu tập tăng trưởng.

Lại hiện ra vô lượng thân diễn nói qua đến mười phương quốc độ cúng dường chư Phật, sư trưởng, chơn thiện tri thức; thọ trì pháp luân của chư Phật, siêng năng chẳng lười. Lại diễn nói ca ngợi tất cả chư Phật Như Lai, quán sát tất cả pháp môn, hiển thị tánh tướng của tất cả pháp, khai xiển tất cả môn tam muội. Mở cảnh giới trí huệ, cạn biển nghi của tất cả chúng sanh. Chỉ bày kim cang trí huệ, phá vỡ núi kiến chấp của tất cả chúng sanh. Mọc mặt nhựt trí huệ phá si tối của tất cả chúng sanh, cho họ hoan hỷ thành Nhứt thiết trí.

Lại hiện ra vô lượng thân đến trước tất cả chúng sanh, tùy theo cơ nghi dùng nhiều ngôn từ để thuyết pháp. Hoặc nói thần thông phước lực thế gian. Hoặc nói tam giới đều đáng sợ, cho họ chẳng gây tạo nghiệp hạnh thế gian để rời tam giới, khỏi rừng kiến chấp. Hoặc ca ngợi đạo Nhứt thiết trí cho họ siêu việt bực Nhị thừa. Hoặc diễn nói chẳng trụ sanh tử, chẳng trụ Niết bàn cho họ chẳng chấp hữu vi và vô vi. Hoặc diễn nói ở Ðâu Suất Thiên cung, nhẫn đến đạo tràng, cho họ vui thích phát tâm Bồ đề. Dùng những phương tiện giáo hóa chúng sanh, cho họ rốt ráo được Nhứt thiết trí.

Lại hiện ra vô lượng thân đến trước tất cả chúng sanh, trong mỗi niệm chỉ bày tất cả hạnh nguyện của Phổ Hiền Bồ tát. Trong mỗi niệm chỉ bày đại nguyện thanh tịnh sung mãn pháp giới. Trong mỗi niệm chỉ bày nghiêm tịnh tất cả thế giới. Trong mỗi niệm chỉ bày cúng dường tất cả Như Lai. Trong mỗi niệm chỉ bày nhập tất cả pháp môn. Trong mỗi niệm chỉ bày nhập tất cả Phật sát vi trần số thế giới. Trong mỗi niệm chỉ bày thanh tịnh tu hành đạo Nhứt thiết trí nơi tất cả cõi tận kiếp vị lai. Trong mỗi niệm chỉ bày nhập Như Lai lực. Trong mỗi niệm chỉ bày phương tiện nhập tất cả tam thế. Trong mỗi niệm chỉ bày hiện những thần thông biến hóa qua tất cả cõi. Trong mỗi niệm chỉ bày tất cả hạnh nguyện Bồ tát cho tất cả chúng sanh an trụ Nhứt thiết trí. Những việc làm như vậy luôn không thôi nghỉ.

Lại hiện ra vô lượng thân đến trước tất cả chúng sanh nói vô biên tế lực của chư Bồ tát chứa nhóm pháp trợ đạo Nhứt thiết trí. Nói bất hoại lực, vô tận lực cầu Nhứt thiết trí. Nói bất thối lực, vô gián lực tu hạnh vô thượng. Nói vô nhiễm lực đối với pháp sanh tử. Nói sức có thể phá tất cả ma chúng. Nói sức có thể xa rời tất cả phiền não. Nói sức có thể phá tất cả núi nghiệp chướng. Nói sức không mỏi trụ tất cả kiếp tu hành đại bi. Sức chấn động tất cả quốc độ làm cho tất cả chúng sanh sanh lòng hoan hỷ. Sức có thể phá tất cả ngoại đạo. Sức chuyển pháp luân trong các thế gian. Dùng những phương tiện thành thục như vậy làm cho các chúng sanh đến Nhứt thiết trí.

Lại hiện ra vô lượng thân biến hóa đến khắp vô lượng thế giới, tùy theo tâm của chúng sanh mà diễn nói trí hạnh của tất cả Bồ tát. Như là nói trí nhập tất cả chúng sanh giới, trí nhập tất cả chúng sanh tâm, trí nhập tất cả chúng sanh căn, trí nhập tất cả chúng sanh hạnh, trí độ tất cả chúng sanh chưa từng lỗi thời, trí phát ra tất cả pháp giới âm thanh, trí mỗi niệm khắp tất cả pháp giới, trí mỗi niệm biết tất cả thế giới hoại, trí mỗi niệm biết tất cả thế giới thành trụ trang nghiêm sai khác nhau, trí mỗi niệm tự tại thân cận cúng dường tất cả Như Lai thính thọ pháp luân.

Thị hiện trí ba la mật như vậy, làm cho các chúng sanh đều rất hoan hỷ thơ thới thích thú, lòng họ thanh tịnh, sanh trí hiểu quyết định cầu Nhứt thiết trí không thối chuyển.

Như nói các môn ba la mật của Bồ tát thành thục chúng sanh, tuyên nói những hành pháp của tất cả Bồ tát làm lợi ích cho chúng sanh cũng như vậy.

Lại ở trong mỗi lỗ lông xuất hiện vô lượng thân chúng sanh. Như là xuất hiện thân giống như các trời Sắc Cứu Cánh, Thiện Hiện, Thiện Kiến, Vô Nhiệt, Vô Phiền. Xuất hiện thân giống như các trời Quảng Quả, Phước Ái, Phước Sanh, Vô Vân. Xuất hiện thân giống như các trời Biến Tịnh, Vô Lượng Tịnh, Thiểu Tịnh. Xuất hiện thân giống như các trời Quang Âm, Vô Lượng Quang, Thiểu Quang. Xuất hiện thân giống như các trời Ðại Phạm, Phạm Chúng, Phạm Phụ. Xuất hiện thân giống như các trời Tự Tại Tha Hóa, Hóa Lạc, Ðâu Suất, Dạ Ma, Ðao Lợi và các Thiên tử, Thiên nữ. Xuất hiện thân giống như Càn thát bà vương, Càn thát bà tử, Càn thát bà nữ. Xuất hiện thân giống như Cưu bàn trà vương, Cưu bàn trà tử, Cưu bàn trà nữ. Xuất hiện thân giống như Long vương, Long tử, Long nữ. Xuất hiện thân giống như Dạ xoa vương, Dạ xoa tử, Dạ xoa nữ. Xuất hiện thân giống như Khẩn na la vương, Ma hầu la già vương, Ca lâu la vương, A tu la vương, Diêm La vương cùng chư tử, chư nữ. Xuất hiện thân giống như Nhơn vương cùng chư tử, chư nữ. Xuất hiện thân giống như chúng của Thanh văn, Ðộc giác, chư Phật. Xuất hiện thân giống như Ðịa Thần, Thủy Thần, Hỏa Thần, Phong Thần, Hà Thần, Hải Thần, Sơn Thần, Thọ Thần, Trú Thần, Dạ Thần, Chủ Phương Thần… Xuất hiện vô lượng thân như vậy sung mãn pháp giới.

Ở trước tất cả chúng sanh xuất hiện những âm thanh. Như là: Tiếng phong luân, tiếng thủy luân, tiếng hỏa diệm, tiếng hải triều, tiếng địa chấn, tiếng núi lớn chạm nhau, tiếng Thiên thành chấn động, tiếng ma ni khua, tiếng Thiên vương, tiếng Long vương, tiếng Dạ xoa vương, tiếng Càn thát bà vương, tiếng A tu la vương, tiếng Ca lâu la vương, tiếng Khẩn na la vương, tiếng Ma hầu la già vương, tiếng Nhơn vương, tiếng Phạm Vương, tiếng ca ngâm của Thiên nữ, tiếng âm nhạc của chư Thiên, tiếng ma ni bửu vương.

Dùng những âm thanh như vậy để diễn nói chỗ gieo trồng công đức của Hỷ Mục Dạ Thần từ lúc sơ phát tâm, như là kính thờ các bực thiện tri thức, thân cận chư Phật, tu tập thiện pháp. Thực hành bố thí ba la mật khó xả mà xả được. Thực hành giới ba la mật vất bỏ ngôi vua, cung điện, quyến thuộc để xuất gia học đạo. Thực hành nhẫn nhục ba la mật có thể nhẫn chịu tất cả sự khổ thế gian, cho đến những khổ hạnh của Bồ tát tu tập, thọ trì chánh pháp, thảy đều kiên cố lòng chẳng lay động, cũng nhẫn thọ được những ác tác ác thuyết của tất cả chúng sanh gia vào thân tâm mình, nhẫn thọ tất cả công nghiệp không để hư mất, nhẫn thọ tất cả pháp sanh trí hiểu quyết định, nhẫn thọ pháp tánh có thể suy gẫm chín chắn. Thực hành tinh tấn ba la mật khởi hạnh Nhứt thiết trí, thành tựu tất cả Phật pháp. Thực hành thiền ba la mật, những tư cụ của thiền ba la mật cho đến những sự tu tập, những sự thành tựu, những sự thanh tịnh, những tam muội thần thông, những sự nhập tam muội môn của thiền ba la mật đều hiển thị cả. Thực hành bát nhã ba la mật, bát nhã ba la mật đây có những tư cụ, những trí huệ nhựt thanh tịnh quảng đại, trí huệ vân quảng đại, trí huệ tạng quảng đại, trí huệ môn quảng đại, thảy đều hiển thị cả. Thực hành phương tiện ba la mật, ba la mật nầy có những tư cụ, sự tu hành, thể tánh, lý thú, thanh tịnh, tương ưng, đều hiển thị cả. Thực hành nguyện ba la mật, ba la mật nầy có thể tánh, thành tựu, tu tập, tương ưng, đều hiển thị cả. Thực hành lực ba la mật, ba la mật nầy có những tư cụ, nhơn duyên, lý thú, diễn thuyết, tương ưng, đều hiển thị cả. Thực hành trí ba la mật, ba la mật nầy có những tư cụ, thể tánh, thành tựu, thanh tịnh, xứ sở, tăng trưởng, thâm nhập, quang minh, hiển thị, lý thú, sự tương ưng, giản trạch, hành tướng, pháp tương ưng, pháp sở nhiếp, pháp sở tri, nghiệp sở tri, cõi sở tri, kiếp sở tri, thế sở tri, Phật xuất hiện đã biết, Phật đã biết, Bồ tát đã biết, Bồ tát tâm, Bồ tát vị, Bồ tát tư cụ, Bồ tát phát thú, Bồ tát hồi hướng, Bồ tát đại nguyện, Bồ tát pháp luân, Bồ tát giản trạch pháp, Bồ tát pháp hải, Bồ tát pháp môn hải, Bồ tát pháp triền lưu, Bồ tát pháp lý thú, tất cả cảnh giới tương ưng với trí ba la mật như vậy đều hiển thị để thành thục chúng sanh.

Lại diễn thuyết Hỷ Mục Dạ Thần từ lúc sơ phát tâm chứa nhóm công đức tiếp nối thứ đệ, chứa nhóm thiện căn tiếp nối thứ đệ, tu tập vô lượng môn ba la mật tiếp nối thứ đệ, chết đây sanh kia và danh hiệu tiếp nối thứ đệ, thân cận thiện hữu, kính thờ chư Phật, thọ trì chánh pháp, tu Bồ tát hạnh, nhập môn tam muội, dùng sức tam muội thấy khắp chư Phật, thấy khắp các cõi, thấy khắp các kiếp, thâm nhập pháp giới, quán sát chúng sanh, nhập pháp giới hải biết các chúng sanh chết đây sanh kia, được tịnh Thiên nhĩ nghe tất cả tiếng, được tịnh Thiên nhãn thấy tất cả sắc, được tha tâm trí biết tâm chúng sanh, được túc trụ trí biết sự đời trước, được thần túc trí thông vô y vô tác du hành khắp mười phương cõi, tất cả những tiếp nối thứ đệ của tất cả công đức thần thông ấy. Ðược Bồ tát giải thoát, nhập Bồ tát giải thoát hải, được Bồ tát tự tại, được Bồ tát dũng mãnh, được Bồ tát du bộ, trụ Bồ tát tưởng, nhập Bồ tát đạo, tất cả những công đức nối tiếp thứ đệ như vậy đều diễn nói phân biệt hiển thị để thành thục chúng sanh.

Lúc diễn nói như vậy, trong mỗi niệm, mỗi phương, trong mười phương đều nghiêm tịnh bất khả thuyết bất khả thuyết Phật độ, độ thoát vô lượng ác thú chúng sanh, làm cho vô lượng chúng sanh sanh trong hàng nhơn Thiên giàu sang tự tại. Làm cho vô lượng chúng sanh thoát biển sanh tử. Làm cho vô lượng chúng sanh an trụ bực Thanh văn, Bích chi Phật. Làm cho vô lượng chúng sanh an trụ Như Lai địa.

Thiện Tài đồng tử thấy nghe tất cả những sự hy hữu đã hiển hiện đó, liền quán sát tư duy hiểu rõ và thâm nhập an trụ trong đó. Nương oai lực của Phật và sức giải thoát nên được Bồ tát bất tư nghì đại thế lực, phổ hỷ tràng tự tại lực giải thoát.

Tại sao vậy? Vì Thiện Tài cùng Hỷ Mục Dạ Thần, từ thuở xưa đã từng cùng nhau tu hành, vì thần lực của Phật gia hộ, vì bất tư nghì thiện căn hộ trợ, vì được Bồ tát căn, vì sanh trong dòng Như Lai, vì được sức thiện hữu nhiếp thọ, vì được chư Phật hộ niệm, vì đã từng được sự giáo hóa của đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai, vì phần thiện căn đó đã thành thục, vì kham tu tập hạnh của Phổ Hiền Bồ tát.

Ðược môn giải thoát nầy rồi, Thiện Tài rất hoan hỷ, chắp tay cung kính hướng về phía Hỷ Mục Quán Sát Chúng Sanh Dạ Thần mà nói kệ khen ngợi rằng:

Vô lượng vô số kiếp

Học Phật pháp thậm thâm

Tùy chỗ nên hóa độ

Hiển hiện diệu sắc thân.

Biết rõ các chúng sanh

Trầm mê mắc vọng tưởng

Ðều hiện nhiều thân hình

Tùy nghi điều phục họ.

Pháp thân hằng tịch tịnh

Thanh tịnh không hai tướng

Vì giáo hóa chúng sanh

Thị hiện những thân hình.

Nơi các uẩn, xứ, giới

Chưa từng có chỗ chấp

Công hạnh và sắc thân

Hiện ra điều phục chúng.

Chẳng chấp pháp nội ngoại

Ðã vượt biển sanh tử

Mà hiện những thân hình

Ở nơi cõi hữu lậu.

Lìa xa những phân biệt

Hý luận không làm động

Vì người chấp vọng tưởng

Hoằng tuyên pháp thập lực.

Nhứt tâm trụ tam muội

Vô lượng kiếp chẳng động

Lỗ lông hiện biến hóa

Cúng dường thập phương Phật.

Ðược Phật phương tiện lực

Niệm niệm vô biên tế

Thị hiện nhiều thân hình

Khắp nhiếp các quần sanh.

Biết rõ biển hữu lậu

Nhiều công hạnh trang nghiêm

Vì nói pháp vô ngại

Khiến họ đều thanh tịnh.

Sắc thân diệu vô tỷ

Thanh tịnh như Phổ Hiền

Tùy tâm các chúng sanh

Thị hiện tướng thế gian.

Thiện Tài nói kệ xong, bạch rằng:

Ðức Thánh phát tâm Vô thượng Bồ đề hồi nào? Ðược môn giải thoát nầy được bao lâu?

Hỷ Mục Dạ Thần nói kệ đáp rằng:

Ta nhớ đời quá khứ

Qua khỏi sát trần kiếp

Cõi hiệu Ma Ni Quang

Kiếp tên Tịch Tịnh Âm.

Trăm vạn na do tha

Câu chi tứ thiên hạ

Nhơn vương số cũng vậy

Mỗi vua trị mỗi châu.

Có một vương đô thành

Hiệu là Hương Tràng Bửu

Trang nghiêm rất đẹp lạ

Ai thấy cũng hoan hỷ.

Thành có Chuyển Luân Vương

Thân vua rất xinh đẹp

Ðủ ba hai tướng tốt

Tùy hảo trang nghiêm thân.

Từ hoa sen hóa sanh

Thân sáng chói màu vàng

Bay cao chiếu xa gần

Khắp đến châu Diêm Phù.

Vua có ngàn vương tử

Thân đoan chánh dũng mãnh,

Các quan đủ một ức

Có trí huệ phương tiện,

Cung tần mười ức người

Dung nhan như Thiên nữ,

Lòng điều nhu lợi ích

Thương mến hầu hạ vua.

Nhà vua dùng pháp trị

Khắp đến tứ thiên hạ

Trong khắp cõi đại địa

Tất cả đều giàu mạnh.

Thuở ấy, ta Bửu Nữ

Có ngôn âm thanh tịnh

Thân chiếu sáng kim sắc

Chiếu đến ngàn do tuần.

Một đêm nọ trời tối,

Âm nhạc đã ngừng bặt,

Ðại vương và quan hầu

Tất cả đều ngủ yên.

Lúc đó, Phật Ðức Hải

Xuất hiện trên thế gian

Hiển thị thần thông lực

Sung mãn mười phương cõi.

Phật phóng đại quang minh

Chiếu khắp tất cả cõi,

Hiện những thân tự tại

Ðầy khắp cả mười phương.

Ðịa chấn vang tiếng diệu

Phổ cáo Phật xuất thế

Chúng Thiên, Nhơn, Long, Thần,

Tất cả đều hoan hỷ.

Trong mỗi mỗi lỗ lông

Hiện ra hóa thân Phật

Mười phương đều đầy khắp

Tùy nghi nói diệu pháp.

Lúc đó, ta chiêm bao

Thấy thần biến của Phật

Cũng nghe pháp thâm diệu

Lòng ta rất vui mừng

Một vạn Chủ Dạ Thần

Cũng dừng tại hư không

Tán thán Phật xuất thế

Ðồng thời đánh thức ta:

Bửu Nữ! Nàng mau dậy

Phật đã hiện nước người

Nhiều kiếp khó gặp gỡ

Người thấy được thanh tịnh,

Liền đó ta thức dậy

Thấy quang minh thanh tịnh

Xem coi từ đâu chiếu

Thấy Phật ngự Bồ đề

Thân tướng tốt trang nghiêm

Dường như Bửu Sơn vương

Trong tất cả lỗ lông

Phóng vô lượng quang minh.

Thấy rồi rất vui mừng

Lòng ta tự nghĩ rằng:

Nguyện ta được như Phật

Sức thần thông quảng đại.

Lúc đó, ta đánh thức

Ðại vương và quyến thuộc

Cho thấy Phật quang minh

Tất cả đều mừng rỡ.

Ta cùng với đại vương

Người theo ngàn muôn ức

Chúng sanh cũng vô lượng

Ðều đi đến chỗ Phật.

Trọn trong hai muôn năm

Ta cúng dường đức Phật

Thất bửu tứ thiên hạ

Tất cả đều dưng cúng.

Phật Ðức Hải diễn nói

Kinh Công Ðức Phổ Vân

Ứng khắp tâm quần sanh

Trang nghiêm tất cả nguyện.

Dạ Thần giác ngộ ta

Cho ta được lợi ích,

Ta nguyện làm Dạ Thần

Giác ngộ người phóng dật.

Từ đó ta bắt đầu

Phát nguyện đại Bồ đề

Qua lại trong các cõi

Tâm nguyện không quên mất

Sau đó ta cúng dường

Mười ức na do Phật,

Hằng hưởng vui nhơn Thiên

Lợi ích các quần sanh.

Kế Phật Công Ðức Hải

Là Phật Công Ðức Ðăng

Thứ ba Diệu Bửu Tràng,

Thứ tư Hư Không Trí,

Thứ năm Liên Hoa Tạng,

Thứ sáu Vô Ngại Huệ,

Thứ bảy Pháp Nguyệt Vương,

Thứ tám Trí Ðăng Luân,

Ðức Phật thứ chín hiệu

Bửu Diệm Sơn Ðăng Vương,

Ðức Phật thứ mười hiệu

Tam Thế Hoa Quang Âm…

Tất cả Phật như vậy

Ta đều cúng dường đủ

Nhưng chưa được huệ nhãn

Nhập nơi biển giải thoát.

Sau đó lần lượt có

Cõi Nhứt thiết Bửu Quang,

Kiếp đó tên Thiên Thắng

Năm trăm Phật ra đời:

Trước nhứt Nguyệt Quang Luân,

Thứ hai Phật Nhựt Ðăng,

Thứ ba Phật Quang Tràng.

Thứ tư Bửu Tu Di,

Thứ năm Phật Hoa Diệm,

Thứ sáu Phật Ðăng Hải,

Thứ bảy Phật Xí Nhiên,

Thứ tám Phật Thiên Tạng,

Chín: Quang Minh Vương Tràng,

Mười: Phổ Trí Quang Vương…

Tất cả chư Phật ấy

Ta đều cúng dường đủ.

Vẫn còn trong các pháp

Không mà cho là có.

Sau đó lại có kiếp

Tên là Phạm Quang Minh,

Cõi tên Liên Hoa Ðăng

Trang nghiêm rất đẹp lạ.

Có vô lượng đức Phật

Mỗi Phật vô lượng chúng,

Ta đều từng cúng dường

Tôn trọng nghe thuyết pháp.

Một là Bửu Tu Di,

Hai, Phật Công Ðức Hải,

Ba, Phật Pháp Giới Âm,

Bốn, Phật Pháp Chấn Lôi,

Năm là Phật Pháp Tràng,

Thứ sáu Phật Ðịa Quang,

Bảy, Phật Pháp Lực Quang,

Thứ tám Hư Không Giác,

Thứ chín Tu Di Quang,

Thứ mười Công Ðức Vân…

Chư Như Lai như vậy

Ta đều từng cúng dường

Còn chưa hiểu rõ pháp

Ðể nhập biển chư Phật.

Kế đó lại có kiếp

Tên là Công Ðức Nguyệt,

Có thế giới trang nghiêm

Tên là Công Ðức Tràng,

Trong đó có chư Phật

Tám mươi na do tha,

Ta đều sắm đồ cúng

Thâm tâm dưng lên Phật.

Một, Phật Thát Bà Vương,

Hai, Phật Ðại Thọ Vương,

Ba, Công Ðức Tu Di,

Thứ tư Phật Bửu Nhãn,

Thứ năm Lô Xá Na,

Thứ sáu Quang Trang Nghiêm,

Thứ bảy Phật Pháp Hải,

Thứ tám Phật Quang Thắng,

Thứ chín Phật Hiền Thắng,

Thứ mười Phật Pháp Vương.

Chư Phật Như Lai đó

Ta đều từng cúng dường,

Nhưng chưa được thâm trí

Nhập vào biển Phật pháp.

Sau đó lại có kiếp

Tên là Tịch Tịnh Huệ.

Kiếp hiệu Kim Cang Bửu

Rất trang nghiêm đẹp lạ.

Trong đó có ngàn Phật

Thứ đệ hiện thế gian.

Chúng sanh phiền não nhẹ,

Chúng hội đều thanh tịnh

Một, Phật Kim Cang Tê,

Hai, Phật Vô Ngại Lực

Ba, Phật Pháp Giới Ảnh,

Bốn, Phật Thập Phương Ðăng,

Thứ năm Phật Bi Quang,

Thứ sáu Phật Giới Hải,

Thứ bảy Nhẫn Ðăng Luân,

Thứ tám Pháp Luân Quang,

Thứ chín Quang Trang Nghiêm,

Mười, Phật Tịch Tịnh Quang…

Chư Phật Như Lai đó

Ta đều từng cúng dường,

Còn chưa được thâm ngộ

Pháp thanh tịnh như không.

Du hành tất cả cõi

Hằng tu những công hạnh.

Thứ đệ lại có kiếp

Tên là Thiện Xuất Hiện,

Cõi hiệu Hương Ðăng Vân

Tịnh uế chung nhau thành,

Trong đó có ức Phật

Trang nghiêm cõi và kiếp,

Chư Phật đó thuyết pháp,

Ta đều thọ trì được,

Thứ nhứt Phật Quảng Xưng,

Kế đến Phật Pháp Hải,

Thứ ba Tự Tại Vương,

Thứ tư Công Ðức Vân,

Thứ năm Phật Pháp Thắng,

Thứ sáu Phật Thiên Quan,

Thứ bảy Phật Trí Diệm,

Thư tám Hư Không Âm,

Ðức Thế Tôn thứ chín

Hiệu Phổ Sanh Thù Thắng,

Vô Thượng Sĩ thứ mười

Mi Gian Thắng Quang Minh…

Tất cả Phật như vậy

Ta đều từng cúng dường,

Nhưng còn chưa sạch được

Ðạo rời lìa chướng ngại.

Kế đó lại có kiếp

Tên Tập Kiên Cố Vương,

Cõi hiệu Bửu Tràng Chủ

Tất cả khéo nghiêm bày.

Có năm trăm đức Phật

Xuất hiện trong cõi đó,

Ta cung kính cúng dường

Cầu vô ngại giải thoát.

Thứ nhứt Phật Công Ðức,

Thứ hai Tịch Tịnh Âm,

Thứ ba Công Ðức Hải,

Thứ tư Nhựt Quang Vương

Thư năm Công Ðức Vương,

Thứ sáu Tu Di Tướng,

Thứ bảy Pháp Tự Tại,

Thứ tám Công Ðức Vương,

Thứ chín Phước Tu Di,

Mười, Phật Quang Minh Vương…

Chư Phật Như Lai đó

Ta đều từng cúng dường,

Bao nhiêu đạo thanh tịnh

Ta đều nhập không sót,

Nhưng nơi môn đã nhập

Chưa thành tựu được nhẫn.

Kế đó lại có kiếp

Tên là Diệu Thắng Chủ,

Cõi hiệu Tịch Tịnh Âm,

Chúng sanh phiền não nhẹ.

Cõi ấy có Phật hiện

Tám mươi na do tha,

Ta đều từng cúng dường

Ta hành đạo tối thắng,

Thứ nhứt Phật Hoa Tụ,

Thứ hai Phật Hải Tạng,

Thứ ba Công Ðức Sanh,

Thứ tư Thiên Vương Kế,

Thư năm Ma Ni Tạng,

Thứ sáu Chơn Kim Sơn,

Thứ bảy Bửu Tụ Tôn,

Thứ tám Pháp Tràng Phật,

Thứ chín Phật Thắng Tài,

Thứ mười Phật Trí Huệ…

Tất cả chư Phật nầy

Ta đều cúng dường đủ.

Kế đó lại có kiếp

Hiệu là Thiên Công Ðức.

Kiếp đó có thế giới

Hiệu Thiện Hóa Tràng Ðăng,

Sáu mươi ức do tha

Như Lai hiện thế gian.

Một là Tịch Tịnh Tràng,

Hai, Phật Xa Ma Tha

Ba, Phật Bá Ðăng Vương,

Bốn, Phật Tịch Tịnh Quang,

Thứ năm Vân Mật Âm,

Thứ sáu Nhựt Ðại Minh,

Thứ bảy Pháp Ðăng Quang,

Thứ tám Thù Thắng Diệm,

Thứ chín Thiên Thắng Tạng,

Thứ mười Ðại Hống Âm…

Chư Phật Như Lai đó

Ta đều thường cúng dường,

Chưa được thanh tịnh nhẫn

Thâm nhập biển Phật pháp.

Kế đó lại có kiếp

Tên Vô Trước Trang Nghiêm,

Lúc đó, có thế giới

Tên là Vô Biên Quang,

Trong đó có ba sáu

Na do tha Phật hiện:

Một, Công Ðức Tu Di,

Hai, Phật Hư Không Tâm,

Thứ ba Cụ Trang Nghiêm,

Thứ tư Pháp Lôi Âm,

Thứ năm Pháp Giới Thanh,

Thứ sáu Diệu Âm Vân,

Thứ bảy Chiếu Thập Phương,

Thứ tám Pháp Hải Âm,

Thứ chín Công Ðức Hải,

Thứ mười Công Ðức Tràng.

Chư Phật Như Lai đó

Ta đều từng cúng dường.

Kế có Phật xuất thế

Hiệu là Công Ðức Tràng

Ta làm Nguyệt Diện Thiên

Cúng dường đức Thế Tôn.

Như Lai vì ta nói

Vô y diệu pháp môn.

Ta nghe chuyên nhớ nghĩ

Phát sanh biển đại nguyện.

Ta được thanh tịnh nhãn

Tịch diệt định tổng trì

Có thể trong mỗi niệm

Ðều thấy tất cả Phật.

Ta được đại bi tạng

Phương tiện nhãn khắp sáng

Thêm lớn tâm Bồ đề

Thành tựu Như Lai lực.

Thấy chúng sanh điên đảo

Chấp thường, lạc, ngã, tịnh,

Tối ngu si che lấp,

Vọng tưởng khởi phiền não,

Ði đứng rừng kiến chấp,

Qua lại biển tham dục,

Nhóm ở các ác đạo

Tạo vô lượng ác nghiệp,

Trong tất cả các loài

Theo nghiệp mà thọ thân,

Các họa sanh già chết

Vô lượng khổ bức bách.

Vì những chúng sanh đó

Ta phát tâm vô thượng

Nguyện được như mười phương

Tất cả đấng Thập Lực.

Duyên Phật và chúng sanh

Phát khởi những đại nguyện

Từ đó tu công đức

Xu nhập phương tiện đạo,

Ðại nguyện đều che chở

Vào khắp tất cả đạo,

Ðầy đủ ba la mật

Ðầy khắp nơi pháp giới.

Mau nhập nơi các địa

Biển phương tiện tam thế,

Một niệm tu chư Phật

Tất cả hạnh vô ngại.

Lúc đó, ta được nhập

Ðạo Phổ Hiền Bồ tát,

Biết rõ mười pháp giới

Tất cả môn sai biệt.

Nói kệ xong, Dạ Thần bảo Thiện Tài rằng:

Này thiện nam tử! Ý ngươi nghĩ sao? Thuở xưa, Chuyển Luân Thánh vương hiệu Thập Phương Chủ có thể nối thạnh dòng Phật là ai? Chánh là Ngài Văn Thù Sư Lợi đồng tử đây. Còn Dạ Thần giác ngộ ta, chánh là hóa thân của đức Phổ Hiền Bồ tát.

Thuở ấy, ta làm Bửu Nữ, nhờ Dạ Thần giác ngộ cho ta thấy Phật để phát tâm Vô thượng Bồ đề. Từ đó về sau trải qua Phật sát vi trần số kiếp chẳng đọa ác đạo, thường sanh nhơn Thiên, thường thấy chư Phật. Nhẫn đến ở chỗ đức Phật Diệu Ðăng Công Ðức Tràng được môn Bồ tát giải thoát Ðại thế lực phổ hỷ tràng nầy. Ta dùng môn giải thoát nầy làm lợi ích cho tất cả chúng sanh.

Này thiện nam tử! Ta chỉ được môn giải thoát Ðại thế lực phổ hỷ tràng nầy. Như chư Đại Bồ tát trong mỗi niệm đến khắp trước tất cả chư Phật Như Lai, mau hướng vào được biển nhứt thiết trí, trong mỗi niệm dùng môn phát thu vào tất cả biển đại nguyện. Trong mỗi niệm dùng môn đại nguyện tận kiếp vị lai, mỗi niệm xuất sanh tất cả công hạnh. Trong mỗi hạnh xuất sanh tất cả Phật sát vi trần số thân. Mỗi mỗi thân vào khắp tất cả cả pháp giới môn. Mỗi pháp giới môn, trong tất cả cõi Phật, tùy tâm chúng sanh mà nói những diệu hạnh. Trong mỗi vi trần của tất cả cõi đều thấy vô biên chư Phật. Ở chỗ mỗi Như Lai đều thấy khắp pháp giới chư Phật thần thông. Ở chỗ mỗi Như Lai đều thấy đời trước tu Bồ tát hạnh. Ở chỗ mỗi Như Lai thọ trì thủ hộ những pháp luân. Ở chỗ mỗi Như Lai đều thấy những thần biến của tam thế tất cả Như Lai… Ta thế nào biết được, nói được công đức hạnh đó.

Nầy thiện nam tử! Trong chúng hội đây có một Dạ Thần tên là Phổ Cứu Chúng Sanh Diệu Ðức. Ngươi đến đó hỏi Bồ tát thế nào nhập Bồ tát hạnh, tịnh Bồ tát đạo?

Bấy giờ, Thiện Tài Đồng Tử đảnh lễ chân Hỷ Mục Quán Sát Chúng Sanh Chủ Dạ Thần, hữu nhiễu vô số vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.

*Thiện Tài được nghe Phổ hỷ tràng giải thoát môn, thì tin hiểu xu nhập biết rõ tùy thuận tư duy tu tập. Nhớ lời dạy của thiện tri thức không tạm bỏ, chẳng tán động, nhứt tâm nguyện được gặp thiện tri thức, siêng tìm cầu khắp mười phương chẳng lười trễ. Nguyện thường được thân cận thiện tri thức để phát sanh những công đức. Cùng thiện tri thức đồng một thiện căn, được công hạnh thiện xảo phương tiện của thiện tri thức. Nương thiện tri thức vào biển tinh tấn trong vô lượng kiếp thường chẳng xa lìa.

Phát nguyện như vậy rồi, Thiện Tài đến chỗ Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sanh Diệu Ðức.

Dạ Thần nầy vì Thiện Tài mà thị hiện Bồ tát điều phục chúng sanh giải thoát thần lực, dùng những tướng hảo trang nghiêm thân mình. Giữa chặng mày phóng đại quanh minh tên là Trí đăng phổ chiếu thanh tịnh tràng, có vô lượng quang minh làm quyến thuộc. Quang minh nầy chiếu khắp tất cả thế gian, rồi xoay lại chiếu vào đảnh đầu Thiện Tài sung mãn cả thân. Liền đó Thiện Tài được Cứu cánh thanh tịnh luân tam muội.

Ðược tam muội nầy rồi, Thiện Tài thấy khoảng giữa chỗ hai Dạ Thần có tất cả địa trần, thủy trần, hỏa trần, vi trần của những châu báu kim cang ma ni, những vi trần của tất cả hoa hương anh lạc đồ trang sức. Trong mỗi vi trần đều thấy Phật sát vi trần số thế giới thành hoại. Và thấy những khối lớn của địa, thủy, hỏa, phong. Cũng thấy tất cả thế giới tiếp liên đều dùng địa luân nhiệm trì mà an trụ. Cũng thấy tất cả những núi, biển, sông, ao, cây, rừng, cung điện của chư Thiên, Long, Bát bộ, Nhơn, Phi nhơn, cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Nhẫn đến các loài luân chuyển sanh tử qua lại theo nghiệp thọ báo, mọi thứ sai khác đều thấy cả.

Lại thấy tất cả thế giới sai biệt: Những thế giới tạp uế, những thế giới thanh tịnh, những thế giới hướng về tạp uế, những thế giới hướng về thanh tịnh, những thế giới tạp uế thanh tịnh, những thế giới thanh tịnh tạp uế, những thế giới thuần thanh tịnh, những thế giới hoặc hình trạng bằng thẳng, hoặc úp xuống, hoặc ngược lên.

Trong tất cả thế giới, tất cả xứ, tất cả loài như vậy, đều thấy Dạ Thần Phổ Cứu. Chúng sanh nầy trong tất cả thời gian khắp mọi nơi, tùy theo hình mạo ngôn từ hạnh giải sai khác của chúng sanh, mà dùng sức phương tiện hiện ở trước họ mà tùy nghi hóa độ. Làm cho chúng sanh địa ngục khỏi khổ đau. Làm cho súc sanh chẳng ăn nuốt nhau. Làm cho ngạ quỷ hết đói khát. Làm cho loài rồng rời sợ sệt. Làm cho chúng sanh cõi Dục thoát khổ Dục giới, làm cho loài người rời sự sợ đêm tối, sự sợ mắng nhiếc, sự sợ tiếng xấu, sự sợ đại chúng, sự sợ chẳng đủ sống, sự sợ chết, sự sợ đọa ác đạo, sự sợ mất thiện căn, sự sợ thối Bồ đề tâm, sự sợ gặp ác tri thức, sự sợ lìa thiện tri thức, sự sợ sa vào Nhị thừa, sự sợ các thứ sanh tử, sự sợ cùng ở với chúng sanh dị loại, sự sợ thọ sanh thời kỳ ác, sự sợ thọ sanh trong dòng họ ác, sự sợ gây tạo nghiệp ác, sự sợ nghiệp chướng phiền não chướng, sự sợ vọng tưởng chấp trước ràng buộc. Tất cả những sự kinh sợ như vậy đều làm cho loài người đều được bỏ rời.

Lại thấy Dạ Thần nầy hiện khắp trong tất cả
chúng sanh: noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh, có sắc, không sắc, có tưởng, không tưởng, phi hữu tưởng, phi vô tưởng, để thường siêng cứu hộ. Vì thành tựu sức đại nguyện của Bồ tát. Vì thâm nhập sức tam muội của Bồ tát. Vì kiên cố sức thần thông của Bồ tát. Vì xuất sanh sức hạnh nguyện của Phổ Hiền. Vì tăng trưởng biển đại bi của Bồ tát. Vì thành tựu đại từ vô ngại khắp che chở chúng sanh. Vì thành tựu vô lượng hỷ lạc ban cho chúng sanh. Vì thành tựu trí huệ phương tiện nhiếp khắp tất cả chúng sanh. Vì thành tựu thần thông tự tại giải thoát quảng đại của Bồ tát. Vì nghiêm tịnh tất cả Phật độ. Vì giác liễu tất cả pháp. Vì cúng dường tất cả Phật. Vì thọ trì tất cả Phật giáo. Vì chứa nhóm tất cả thiện căn, tu tất cả diệu hạnh. Vì nhập vào tâm hải của tất cả chúng sanh mà không chướng ngại. Vì biết căn tánh tất cả chúng sanh để giáo hóa thành thục. Vì thanh tịnh tín giải của tất cả chúng sanh để trừ ác chướng cho họ. Vì phá màn tối vô tri của tất cả chúng sanh. Vì làm cho chúng sanh được quang minh thanh tịnh Nhứt thiết trí.

Thiện Tài thấy Dạ Thần nầy có thần lực quảng đại như vậy, hiện bày cảnh giới, thậm thâm bất tư nghì, hiển thị Bồ tát điều phục chúng sanh giải thoát thần lực, thì hoan hỷ vô lượng, đảnh lễ nơi
chân, nhứt tâm chiêm ngưỡng.

Lúc đó, Dạ Thần liền xả tướng Bồ tát trang nghiêm hoàn lại thân cũ, mà chẳng bỏ thần lực tự tại.

Thiện Tài chắp tay cung kính nói kệ tán thán:

Tôi Thiện Tài được thấy

Ðại thần lực như vậy

Lòng hoan hỷ vô lượng

Nói kệ để tán thán.

Tôi thấy thân của Ngài

Tướng hảo trang nghiêm đẹp,

Như sao sáng hư không

Tất cả đều nghiêm tịnh.

Phóng quang minh thù thắng

Vô lượng sát trần số

Nhiều màu sắc vi diệu

Chiếu khắp cả mười phương.

Mỗi lỗ lông phóng ra

Chúng sanh tâm số quang

Mỗi mỗi đầu quang minh

Ðều hiện bửu liên hoa.

Trong hoa hiện hóa Phật

Diệt được khổ chúng sanh,

Quang minh phát diệu hương

Xông khắp các chúng sanh.

Lại mưa các thứ hoa

Cúng dường tất cả Phật.

Chặng mày phóng diệu quang

Lượng đồng núi Tu Di

Chiếu khắp các hàm thức

Khiến dứt tối ngu si.

Miệng phóng thanh tịnh quang

Như vô lượng mặt nhựt

Chiếu khắp cảnh quảng đại

Của Tỳ Lô Giá Na.

Mắt phóng thanh tịnh quang

Như vô lượng mặt nguyệt

Chiếu khắp mười phương cõi

Dứt si lòa thế gian.

Hóa hiện nhiều loại thân

Tướng trạng đồng chúng sanh

Sung mãn mười phương cõi

Ðộ thoát biển tam hữu.

Diệu thân khắp mười phương

Hiện khắp trước chúng sanh

Diệt trừ thủy, hỏa giặc,

Nạn, vua, những lo sợ.

Tôi vâng theo Hỷ Mục

Nay được đến chỗ Ngài

Thấy tướng chặng mày Ngài

Phóng quang minh thanh tịnh

Chiếu khắp mười phương cõi

Diệt trừ tất cả tối.

Hiển hiện thần thông lực

Mà đến nhập thân tôi.

Tôi gặp được quang minh

Lòng hoan hỷ vô lượng

Ðược tổng trì tam muội

Thấy khắp thập phương Phật.

Từ chỗ tôi đi qua

Tôi đều thấy vi trần

Trong mỗi mỗi vi trần

Ðều thấy trần số cõi.

Hoặc có vô lượng cõi

Tất cả đều trược uế

Chúng sanh thọ các khổ

Thường buồn than kêu khóc.

Hoặc có cõi nhiễm tịnh

Vui ít, nhiều đau khổ

Thị hiện thân tam thừa

Qua đó mà cứu độ

Hoặc có cõi tịnh nhiễm

Chúng sanh đều thích thấy

Bồ tát thường sung mãn

Trụ trì những chánh pháp,

Trong mỗi mỗi vi trần

Vô lượng cõi thanh tịnh

Do Tỳ Lô Giá Na

Kiếp xưa đã nghiêm tịnh.

Phật ở tất cả cõi

Ðều ngồi cội Bồ đề

Thành đạo, chuyển pháp luân

Ðộ thoát các quần sanh.

Tôi thấy Phổ Cứu Thần

Ở chỗ tất cả Phật

Trong vô lượng cõi kia

Ðều khắp đến cúng dường.

Thiện Tài đồng tử nói kệ xong, thưa Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sanh Diệu Ðức rằng:

Bạch đại Thánh! Môn giải thoát thậm thâm hy hữu nầy tên là gì? Ngài được môn giải thoát nầy đã bao lâu? Tu hạnh gì mà được thanh tịnh?

Dạ Thần nói:

Nầy thiện nam tử! Sự nầy khó biết. Tất cả nhơn Thiên và Nhị thừa không lường được. Tại sao vậy? Vì đây là cảnh giới của bực an trụ Phổ Hiền hạnh. Là cảnh giới của bực an trụ đại bi tạng. Là cảnh giới của bực cứu hộ tất cả chúng sanh. Là cảnh giới của bực có thể tịnh tất cả tam ác, bát nạn. Là cảnh giới của bực ở trong tất cả Phật độ nối thạnh Phật chủng chẳng dứt. Là cảnh giới của bực có thể trụ trì được tất cả Phật pháp. Là cảnh giới của bực có thể ở tất cả kiếp tu Bồ tát hạnh thành mãn biển đại nguyện. Là cảnh giới của bực có thể ở tất cả pháp giới dùng trí quang thanh tịnh diệt vô minh ám chướng. Là cảnh giới của bực có thể dùng trí quang minh trong khoảng một niệm chiếu khắp tất cả phương tiện tam thế. Nay ta thừa oai lực của Phật vì ngươi mà nói.

Nầy thiện nam tử! Thuở xưa, quá Phật sát vi trần số kiếp, có một kiếp tên là Viên Mãn Thanh Tịnh. Thế giới tên là Tỳ Lô Giá Na Ðại Oai đức. Có Tu Di sơn vi trần số Như Lai xuất thế trong thế giới đó.

Thế giới đó bằng chất nhứt thiết hương vương ma ni bửu, châu báu trang nghiêm, trụ trên biển Vô Cấu Quang Minh Ma Ni Vương. Thế giới nầy hình chánh viên, tịnh uế hiệp thành, mây bửu trướng và tất cả trang nghiêm cụ giăng phía trên. Luân sơn ma ni trang nghiêm bao quanh ngàn vòng. Có mười ức na do tha tứ thiên hạ đều diệu trang nghiêm. Hoặc có tứ thiên hạ chúng sanh ác nghiệp ở trong đó. Hoặc có tứ thiên hạ chúng sanh tạp nghiệp ở trong đó. Hoặc có tứ thiên hạ chúng sanh thiện căn ở trong đó. Hoặc có tứ thiên hạ chư Bồ tát thuần thanh tịnh ở trong đó.

Cạnh Luân Vi sơn tột phía đông của thế giới nầy, có tứ thiên hạ tên là Bửu Ðăng Hoa Tràng, cõi nước thanh tịnh, ăn mặc sung túc. Chẳng cần canh tác mà lúa bắp tự mọc tốt. Cung điện lâu các thảy đều kỳ diệu. Những cây như ý thành hàng khắp nơi. Những hương thọ hằng thoảng hơi thơm. Những man thọ hằng xuất sanh mây tràng hoa. Những hoa thọ thường tuôn hoa đẹp. Những bửu thọ xuất sanh báu lạ. Quang minh vô lượng màu chiếu sáng bao vòng. Những âm nhạc thọ xuất sanh những âm nhạc theo gió thổi động phát âm thanh vi diệu. Ánh sáng mặt nhựt, mặt nguyệt và ma ni bửu vương chiếu khắp mọi nơi. Ðêm ngày thường có toàn những cảnh vui vẻ.

Trong tứ thiên hạ nầy có trăm vạn ức na do tha vương quốc. Mỗi nước có ngàn sông lớn chảy quanh. Mặt sông đều có hoa đẹp đua nở, lay động theo dòng nước chảy phát tiếng âm nhạc cõi trời. Nhiều bửu thọ mọc lên bên bờ sông. Nhiều thứ trân kỳ dùng để nghiêm sức. Ghe thuyền qua lại vui chơi thỏa tình. Khoảng giữa mỗi sông, có trăm vạn ức thành. Mỗi thành có trăm vạn ức na do tha tụ lạc. Tất cả thành ấp tụ lạc đều có trăm ngàn ức na do tha cung điện.

Trong tứ thiên hạ nầy, ở Diêm Phù Ðề có một nước tên là Bửu Hoa Ðăng, an ổn phong phú, nhơn dân đông đúc đều thực hành thập thiện. Trong nước có Chuyển Luân Vương xuất hiện hiệu là Tỳ Lô Giá Na Diệu Bửu Liên Hoa Kế, sanh từ trong hoa sen, đủ ba mươi hai tướng hảo, đủ thất bửu, cai trị tứ thiên hạ, hằng dùng chánh pháp giáo hóa chúng sanh. Nhà vua có ngàn vương tử đoan chánh dũng kiện hàng phục được oán địch. Trăm vạn ức na do tha cung nữ đều cùng nhà vua đồng gieo thiện căn, đồng tu công hạnh, đồng thời đản sanh, xinh đẹp như Thiên nữ, thân màu chơn kim thường phóng quang minh. Trong lỗ lông hằng phát ra hơi thơm. Quan hiền, tướng mạnh đủ mười ức.

Chánh phi của nhà vua tên là Viên Mãn Diện, là bửu nữ đoan chánh đẹp lạ, da màu chơn kim, mắt, tóc đều xanh biếc, tiếng nói như Phạm âm, thân có mùi thơm cõi trời, thường phóng ánh sáng chiếu ngàn do tuần. Có một vương nữ tên là Phổ Trí Diệm Diệu Ðức Nhãn. Thân hình đoan nghiêm, sắc tướng xinh đẹp, mọi người đều thích thấy không chán.

Thuở đó, loài người sống lâu vô lượng. Hoặc có kẻ bất định chết yểu giữa chừng. Nhiều hình sắc, nhiều âm thanh, nhiều danh tự, nhiều tộc tánh, ngu, trí, mạnh, yếu, nghèo, giàu, khổ, vui, vô lượng phẩm loại thảy đều chẳng đồng. Có kẻ nói thân tôi đẹp, thân người xấu. Rồi sỉ nhục, gây ác nghiệp. Do đây nên thọ mạng sắc lực tất cả phước vui đều bị tổn giảm.

Thành bắc có cây Bồ đề tên là Phổ quang pháp vân âm tràng. Gốc cây bằng ma ni vương kiên cố niệm niệm xuất sanh tất cả Như Lai đạo tràng trang nghiêm. Tất cả châu ma ni làm thân cây. Lá bằng tạp bửu. Nhánh lá đều có thứ tự xứng nhau, trên dưới bốn phía đều viên mãn trang nghiêm, phóng bửu quang minh, phát diệu âm thanh nói cảnh giới thậm thâm của Như Lai.

Trước cây Bồ đề có một ao nước thơm tên là Bửu hoa quang minh diễn pháp lôi âm, bờ ao bằng diệu bửu. Xung quanh ao có trăm vạn ức na do tha bửu thọ. Hình dáng những cây nầy giống như cây Bồ đề. Những chuỗi ngọc rủ thòng bốn phía. Vô lượng lâu các đều bằng chất báu nghiêm sức khắp đạo tràng. Trong ao nước thơm xuất sanh hoa sen lớn tên là Phổ hiện tam thế nhứt thiết Như Lai trang nghiêm cảnh giới vân. Có Tu Di sơn vi trần số Phật xuất hiện trong đó.

Ðức Phật thứ nhứt hiệu là Phổ Trí Bửu Diệm Diệu Ðức Tràng, thành Vô thượng Ðẳng Chánh Giác trước nhứt nơi trên hoa sen lớn nầy. Ðức Phật diễn thuyết chánh pháp thành thục chúng sanh vô lượng ngàn năm.

Lúc đức Như Lai Phổ Trí chưa thành Phật, trước đây mười ngàn năm, hoa sen lớn nầy phóng tịnh quang minh tên là Hiện chư thần thông thành thục chúng sanh. Nếu có chúng sanh nào được quang minh nầy chiếu đến thì tâm họ tự khai ngộ không gì chẳng biết rõ, biết mười ngàn năm sau có Phật xuất thế.

Chín ngàn năm trước, hoa sen lớn nầy phóng tịnh quang minh tên là Nhứt thiết chúng sanh ly cấu đăng. Nếu có chúng sanh gặp quang minh nầy thì được thanh tịnh nhãn thấy tất cả màu sắc, biết chín ngàn năm sau, sẽ có Phật xuất thế.

Tám ngàn năm trước, hoa sen lớn nầy phóng tịnh quang minh tên là Nhứt thiết chúng sanh nghiệp quả âm. Nếu có chúng sanh gặp quang minh nầy thì đều tự biết những nghiệp quả báo, biết tám ngàn năm sau sẽ có Phật xuất thế.

Bảy ngàn năm trước, hoa sen lớn nầy phóng tịnh quang minh tên là Sanh nhứt thiết thiện căn âm. Nếu có chúng sanh nào gặp quang minh nầy thì tất cả các căn thảy đều viên mãn, biết bảy ngàn năm sau sẽ có Phật xuất thế.

Sáu ngàn năm trước, hoa sen lớn nầy phóng tịnh quang minh tên là Phật bất tư nghì cảnh giới âm. Nếu có chúng sanh gặp quang minh nầy thì tâm họ quảng đại được tự tại khắp cả, biết sáu ngàn năm sau sẽ có Phật xuất thế.

Năm ngàn năm trước, hoa sen lớn nầy phóng tịnh quang minh tên là Nghiêm tịnh nhứt thiết Phật sát âm. Nếu có chúng sanh gặp quang minh nầy thì thấy tất cả Phật độ thanh tịnh, biết năm ngàn năm sau sẽ có Phật xuất thế.

Bốn ngàn năm trước, hoa sen lớn nầy phóng tịnh quang minh tên là Nhứt thiết Như Lai cảnh giới vô sai biệt đăng. Nếu có chúng sanh nào gặp quang minh nầy thì đều có thể đến ra mắt tất cả chư Phật, biết bốn ngàn năm sau sẽ có Phật xuất thế.

Ba ngàn năm trước, hoa sen lớn nầy phóng tịnh quang minh tên là Tam thế minh đăng. Nếu có chúng sanh gặp quang minh nầy thì đều có thể hiện thấy những bổn sự của tất cả Như Lai, biết ba ngàn năm sau sẽ có Phật xuất thế.

Hai ngàn năm trước, hoa sen lớn nầy phóng tịnh quang minh tên là Như Lai ly ế trí huệ đăng. Nếu có chúng sanh gặp quang minh nầy thì được phổ nhãn thấy thần biến của tất cả Như Lai, thấy tất cả Phật độ, thấy tất cả thế giới chúng sanh, biết hai ngàn năm sau sẽ có Phật xuất thế.

Một ngàn năm trước, hoa sen lớn nầy phóng đại quang minh tên là Linh nhứt thiết chúng sanh kiến Phật tập chư thiện căn. Nếu có chúng sanh gặp quang minh nầy thì được thành tựu kiến Phật tam muội, biết một ngàn năm sau sẽ có Phật xuất thế.

Bảy ngày trước, hoa sen nầy phóng đại quang minh tên là Nhứt thiết chúng sanh hoan hỷ âm. Nếu có chúng sanh gặp quang minh nầy thì được thấy khắp chư Phật sanh lòng rất hoan hỷ, biết sau bảy ngày sẽ có Phật xuất thế.

Ðủ bảy ngày sau, tất cả thế giới thảy đều chấn động, thuần tịnh vô nhiễm, mỗi niệm hiện khắp mười phương tất cả cõi Phật thanh tịnh, cũng hiện những sự trang nghiêm của những cõi đó. Nếu có chúng sanh nào căn tánh thuần thục, đáng được thấy Phật thì đều đến đạo tràng.

Bấy giờ, trong thế giới Tỳ Lô Giá Na Ðại Oai Ðức đó, tất cả Luân Vi sơn, Tu Di sơn, tất cả núi, biển, lục địa, thành quách, tường rào, cung điện, âm nhạc, ngữ ngôn đều vang ra âm thanh, khen nói cảnh giới thần lực của tất cả Như Lai.

Lại phát ra tất cả mây thơm: hương xông, hương bột. Phát ra tất cả mây hương hình tượng ngọc ma ni, mây bửu diệm, mây diệm tạng, mây y phục ma ni, mây anh lạc, mây diệu hoa, mây Như Lai quang minh, mây Như Lai viên quang, mây âm nhạc, mây Như Lai nguyện thanh, mây Như Lai ngôn âm, mây Như Lai tướng hảo, hiển thị tướng bất tư nghì của đức Như Lai xuất hiện thế gian.

Nầy thiện nam tử! Ðại bửu liên hoa nầy có mười Phật sát vi trần số liên hoa bao quanh. Trong những hoa sen nầy đều có tòa sư tử ma ni bửu tạng. Trên mỗi tòa đều có Bồ tát ngồi kiết già.

Nầy thiện nam tử! Lúc đức Phổ Trí Bửu Diệm Diệu Ðức Tràng Như Lai thành Vô thượng Ðẳng Chánh Giác tại trên đại bửu liên hoa nầy, đồng thời cũng hiện thành Phật trong thập phương tất cả thế giới. Tùy theo tâm của chúng sanh mà hiện ở trước họ để chuyển pháp luân. Làm cho vô lượng chúng sanh khỏi khổ ác đạo. Làm cho vô lượng chúng sanh được sanh lên trời. Làm cho vô lượng chúng sanh ở bực Thanh văn, Bích chi Phật. Làm cho vô lượng chúng sanh thành tựu hạnh Bồ đề xuất ly. Làm cho vô lượng chúng sanh thành tựu hạnh Bồ đề dũng mãnh tràng. Làm cho vô lượng chúng sanh thành tựu hạnh Bồ đề pháp quang minh. Làm cho vô lượng chúng sanh thành tựu hạnh Bồ đề thanh tịnh căn. Làm cho vô lượng chúng sanh thành tựu hạnh Bồ đề bình đẳng lực. Làm cho vô lượng chúng sanh thành tựu hạnh Bồ đề nhập pháp thành. Làm cho vô lượng chúng sanh thành tựu hạnh Bồ đề nhập phổ môn phương tiện đạo. Làm cho vô lượng chúng sanh an trụ hạnh Bồ đề tam muội môn. Làm cho vô lượng chúng sanh thành tựu hạnh Bồ đề duyên tất cả cảnh giới sanh phát tâm Bồ đề. Làm cho vô lượng chúng sanh an trụ đạo ba la mật thanh tịnh. Làm cho vô lượng chúng sanh trụ Bồ tát Sơ địa. Làm cho vô lượng chúng sanh trụ Bồ tát Nhị địa, nhẫn đến Thập địa. Làm cho vô lượng chúng sanh nhập hạnh nguyện thù thắng của Bồ tát. Làm cho vô lượng chúng sanh an trụ hạnh nguyện thanh tịnh của Phổ Hiền.

Nầy thiện nam tử! Ðức Phổ Trí Bửu Diệm Diệu Ðức Tràng Như Lai hiện thần lực tự tại bất tư nghì như vậy. Lúc đức Phật chuyển pháp luân, ở trong mỗi thế giới đó, tùy theo cơ nghi, mỗi niệm điều phục vô lượng chúng sanh.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát biết trong thành của Bửu Hoa Ðăng Vương, chúng sanh tự ỷ thị nhan sắc và cảnh giới mà khinh mạn lăng miệt người khác, nên Bồ tát hóa hiện thân hình đoan chánh đẹp lạ đến trong thành ấy phóng đại quang minh chiếu khắp tất cả, làm cho ánh sáng của Thánh vương, của dân chúng, của nhựt nguyệt tinh tú đều lu mờ, dường như lúc mặt nhựt mọc lên cao chói sáng khắp nơi, cũng như vàng diêm phù đàn để cạnh đống mực đen.

Chúng sanh trong thành đều bảo nhau rằng đây là ai? Là Thiên thần hay Phạm vương mà phóng ánh sáng chói mờ quang sắc của chúng ta? Phổ Hiền Bồ tát đứng trên hư không ngay cung điện của Thánh vương mà bảo rằng:

Nầy Ðại vương! Hiện nay trong nước của nhà vua có Phật xuất thế ngự tại cây Bồ đề Phổ quang minh pháp vân âm tràng.

Khi ấy, Vương nữ Phổ Trí Diệu Nhãn thấy sắc thân và quang minh tự tại của Phổ Hiền Bồ tát và nghe những vật trang nghiêm trên thân Bồ tát phát âm thanh vi diệu, lòng rất vui mừng, tự nghĩ rằng: Nguyện tất cả căn lành của tôi có đều hồi hướng để được thân như vậy, được tướng tốt oai nghi tự tại như vậy. Nay đức Thánh nầy có thể ở trong chỗ sanh tử tối tăm của chúng sanh mà phóng đại quang minh và báo tin đức Như Lai xuất thế. Nguyện tôi cũng được như vậy, vì các chúng sanh mà làm trí quang minh để phá sự vô tri đen tối của họ. Nguyện tôi thọ sanh chốn nào cũng đều chẳng xa rời vị thiện tri thức nầy.

Lúc đó, Thánh vương cùng bửu nữ và ngàn vương tử, quyến thuộc, các đại thần, bốn binh chủng, nhơn dân trong thành, do thần lực của Thánh vương đồng bay lên hư không cao một do tuần phóng đại quang minh chiếu tứ thiên hạ, khiến khắp mọi người đều được chiêm ngưỡng. Vì muốn chúng sanh đều đến gặp Phật nên Thánh vương nói kệ tán thán Phật.

Như Lai xuất thế gian

Cứu khắp các quần sanh

Các người phải mau dậy

Ði đến chỗ Ðạo Sư.

Vô lượng vô số kiếp

Mới có Phật xuất thế

Diễn nói pháp thâm diệu

Lợi ích tất cả chúng.

Phật xem các thế gian

Ðiên đảo thường mê lầm

Luân hồi khổ sanh tử

Mà khởi lòng đại bi.

Vô số ức ngàn kiếp

Tu tập hạnh Bồ đề

Vì muốn độ chúng sanh

Ðây do sức đại bi.

Ðầu, mắt, tay, chân thảy

Ðều xả được tất cả

Vì cầu đạo Bồ đề

Vô lượng kiếp bố thí.

Vô lượng ức ngàn kiếp

Khó gặp được Như Lai

Thấy, nghe, hoặc thờ phụng

Ðều được lợi ích lớn.

Nay sẽ cùng đại chúng

Ðến gặp đấng Ðiều Ngự

Ngồi bửu tòa Như Lai

Hàng ma thành Chánh giác.

Chiêm ngưỡng thân Như Lai

Phóng ra vô lượng quang

Nhiều thứ sắc vi diệu

Diệt trừ tất cả tối.

Trong mỗi mỗi lỗ lông

Phóng quang bất tư nghì

Chiếu khắp các quần sanh

Ðều khiến rất vui mừng.

Ðại chúng đều nên phát

Tâm tinh tấn quảng đại

Ðến chỗ đức Như Lai

Cung kính cúng dường Phật.

Chuyển Luân Thánh Vương nói kệ khen Phật
khai ngộ tất cả chúng sanh rồi, do thiện căn của Luân Vương xuất hiện mười ngàn thứ mây đại cúng dường, thẳng đến phía đạo tràng của Như Lai. Như là mây tất cả bửu cái, mây tất cả hoa trướng, mây tất cả bửu y, mây tất cả bửu linh võng, mây tất cả diệu hương, mây tất cả bửu tòa, mây tất cả bửu tràng, mây tất cả cung điện, mây tất cả diệu hoa, mây tất cả đồ trang nghiêm giăng đẹp khắp hư không.

Thánh vương đảnh lễ nơi chân đức Phổ Trí Bửu Diệm Diệu Ðức Tràng Như Lai, hữu nhiễu vô lượng vòng, rồi ngồi trên tòa phổ chiếu thập phương bửu liên hoa phía trước đức Phật.

Vương nữ Phổ Trí Diệm Diệu Ðức Nhãn cởi đồ trang sức trên thân cầm rải lên cúng dường Phật. Những đồ trang sức đó liền ở trên hư không biến thành lưới bửu cái thòng rủ xuống. Long vương cầm giữ bửu cái nầy. Những cung điện xen bày trong đó. Mười thứ bửu cái bao vòng hình như lâu các trong ngoài thanh tịnh, trang nghiêm với những chuỗi ngọc, bửu thọ, hương hải, ma ni. Trong bửu cái đó có cây Bồ đề nhánh lá sum sê che trùm cả pháp giới, mỗi niệm hiện ra vô lượng trang nghiêm.

Ðức Tỳ Lô Giá Na Như Lai ngự dưới cội Bồ đề nầy. Có bất khả thuyết Phật sát vi trần số Bồ tát vây quanh. Chư Bồ tát nầy đều xuất sanh từ nơi hạnh nguyện của Phổ Hiền, an trụ nơi vô sai biệt trụ của Bồ tát.

Cũng thấy có tất cả thế gian chủ. Cũng thấy thần lực tự tại của Như Lai. Cũng thấy những kiếp thứ đệ có thế giới thành hoại. Lại cũng thấy tất cả thế giới đó, mỗi mỗi thế giới đều có Phổ Hiền Bồ tát cúng dường chư Phật điều phục chúng sanh. Lại cũng thấy tất cả Bồ tát đó đều ở trong thân Phổ Hiền. Cũng thấy thân mình ở trong thân đó. Cũng thấy thân mình ở trước chỗ tất cả Như Lai, tất cả Phổ Hiền, tất cả Bồ tát, tất cả chúng sanh. Lại cũng thấy tất cả thế giới đó mỗi mỗi đều có Phật sát vi trần số thế giới, những ranh giới, những nhiệm trì, những hình trạng, những thể tánh, những sắp đặt, những trang nghiêm, những thanh tịnh, những mây trang nghiêm mà che trên đó, những tên kiếp, chư Phật xuất thế, những tam thế, những phương xứ, những trụ pháp giới, những nhập pháp giới, những trụ hư không, những Như Lai Bồ đề tràng, những Như Lai thần thông lực, những Như Lai sư tử tòa, những Như Lai đại chúng, những Như Lai chúng sai biệt. Những Như Lai xảo phương tiện, những Như Lai chuyển pháp luân, những Như Lai diệu âm thanh, những Như Lai ngôn thuyết, những Như Lai khế kinh. Thấy như vậy rồi, Vương nữ rất hoan hỷ lòng thanh tịnh.

Phổ Trí Bửu Diệm Diệu Ðức Tràng Như Lai vì Vương nữ mà nói tu đa la tên là Nhứt Thiết Như Lai Chuyển Pháp Luân, có mười Phật sát vi trần số tu đa la làm quyến thuộc.

Vương nữ nghe kinh xong, thì được thành tựu mười ngàn môn tam muội, tâm nhu nhuyến không cứng thô, như mới thọ thai, như mới đản sanh, như cây ta la mới mọc mộng, tâm tam muội đó cũng như vậy. Như là Hiện kiến nhứt thiết chư Phật tam muội, Phổ chiếu nhứt thiết sát tam muội, Nhập nhứt thiết tam thế môn tam muội, Thuyết nhứt thiết Phật pháp luân tam muội, Tri nhứt thiết Phật nguyện hải tam muội, Khai ngộ nhứt thiết chúng sanh linh xuất sanh tử khổ tam muội, Thường nguyện phá nhứt thiết chúng sanh ám tam muội, Thường nguyện diệt nhứt thiết chúng sanh khổ tam muội, Thường nguyện sanh nhứt thiết chúng sanh lạc tam muội, Giáo hóa nhứt thiết chúng sanh bất sanh bì yểm tam muội, Nhứt thiết Bồ tát vô chướng ngại tràng tam muội, Phổ nghệ nhứt thiết thanh tịnh Phật sát tam muội… Vương nữ được mười ngàn tam muội như vậy.

Vương nữ lại được tâm diệu định, tâm bất động, tâm hoan hỷ, tâm an ủi, tâm quảng đại, tâm thuận thiện tri thức, tâm duyên thậm thâm Nhứt thiết trí, tâm trụ quảng đại phương tiện hải, tâm xả ly tất cả chấp trước, tâm chẳng trụ thế gian cảnh giới, tâm nhập Như Lai cảnh giới, tâm phổ chiếu tất cả sắc hải, tâm không não hại, tâm không cao ngạo, tâm không mệt mỏi, tâm không thối chuyển, tâm không giải đãi, tâm tư duy tự tánh của các pháp, tâm an trụ tất cả pháp môn, tâm quán sát tất cả pháp môn, tâm biết rõ tất cả chúng sanh, tâm cứu hộ tất cả chúng sanh, tâm chiếu khắp tất cả thế giới, tâm khắp sanh tất cả Phật nguyện, tâm đều phá tất cả núi chướng, tâm chứa nhóm phước đức trợ đạo, tâm hiện thấy chư Phật thập lực, tâm chiếu khắp cảnh giới Bồ tát, tâm tăng trưởng Bồ tát trợ đạo, tâm duyên khắp tất cả phương, tâm tư duy Phổ Hiền đại nguyện.

Vương nữ lại phát mười Phật sát vi trần số nguyện hải của Như Lai: Nguyện nghiêm tịnh tất cả cõi Phật. Nguyện điều phục tất cả chúng sanh. Nguyện biết khắp tất cả thế giới. Nguyện vào khắp tất cả pháp giới. Nguyện trong tất cả Phật độ tu Bồ tát hạnh cùng tận thuở kiếp vị lai. Nguyện tận thuở vị lai kiếp không bỏ hạnh Bồ tát. Nguyện được gần gũi tất cả Như Lai. Nguyện được thừa sự tất cả thiện hữu. Nguyện được cúng dường tất cả chư Phật. Nguyện ở trong mỗi niệm tu Bồ tát hạnh, tăng Nhứt thiết trí không gián đoạn. Phát mười Phật sát vi trần số nguyện hải như vậy, thành tựu đại nguyện Phổ Hiền.

Ðức Phổ Trí Như Lai lại vì Vương nữ mà nói những thiện căn đã chứa nhóm từ khi phát tâm tới nay, cùng những diệu hạnh đã tu, đại quả đã được. Làm cho Vương nữ khai ngộ thành tựu nguyện hải của Như Lai, nhứt tâm hồi hướng bực Nhứt thiết trí.

Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sanh Diệu Ðức nói tiếp:

Nầy thiện nam tử! Lại quá đây mười đại kiếp về trước, có thế giới tên là Nhựt Luân Quang Ma Ni, Phật hiệu là Nhơn Ðà La Tràng Diệu Tướng. Vương nữ Diệu Nhãn ở trong pháp để lại của đức Như Lai đó, Phổ Hiền Bồ tát khuyên nàng tu bổ tượng Phật cũ hư trên tòa lLiên hoa. Nàng đã tu bổ xong lại sơn vẽ. Sơn vẽ xong lại trang nghiêm các châu báu, rồi phát tâm Vô thượng Bồ đề.

Nầy thiện nam tử! Ta nhớ thuở quá khứ do Phổ Hiền Bồ tát thiện tri thức mà Vương nữ gieo được thiện căn nầy, từ đó trở đi chẳng đọa ác thú, thường thọ sanh trong dòng Thiên vương, Nhơn vương, xinh đẹp khả ái, đủ những tướng tốt, khiến mọi người thích thấy, thường gặp Phật, thường được gần gũi Phổ Hiền Bồ tát, được Bồ tát chỉ dạy khai ngộ thành thục mãi đến ngày nay.

Nầy thiện nam tử! Chuyển Luân Thánh Vương Tỳ Lô Giá Na Tạng Diệu Bửu Liên Hoa Kế nay là Di Lặc Bồ tát. Vương phi Viên Mãn Diện nay là Dạ Thần Tịch Tịnh Âm Hải đang ở gần đây. Vương nữ Diệu Ðức Nhãn chính là ta.

Thuở xưa ấy, ta làm đồng nữ, Phổ Hiền Bồ tát khuyên ta tu bổ tượng Phật, dùng đó làm nhân duyên phát tâm Vô thượng Bồ đề. Ðó là lúc ta bắt đầu phát tâm.

Sau đó Phổ Hiền Bồ tát dẫn dắt ta thấy đức Diệu Ðức Tràng Phật, ta cởi chuỗi ngọc rải lên cúng dường, thấy thần lực của Phật, nghe Phật thuyết pháp, liền được môn giải thoát Bồ tát hiện khắp tất cả thế gian điều phục chúng sanh. Trong mỗi niệm thấy Tu Di sơn vi trần số Phật. Cũng thấy đạo tràng chúng hội và quốc độ thanh tịnh của chư Phật. Ta đều tôn trọng cung kính cúng dường nghe diễn chánh pháp, y giáo tu hành.

Nầy thiện nam tử! Qua khỏi thế giới Tỳ Lô Giá Na Ðại Oai Ðức, kiếp viên mãn thanh tịnh, có thế giới tên là Bửu Luân Diệu Trang Nghiêm, kiếp tên là Ðại Quang, có năm trăm đức Phật xuất hiện trong đó. Ta đều kính thờ cúng dường. Ðức Phật tối sơ hiệu là Ðại Bi Tràng, lúc mới xuất gia, ta làm Dạ Thần cung kính cúng dường.

Kế đó có Phật xuất thế hiệu là Kim Cang Na La Diên Tràng. Ta làm Chuyển Luân Thánh Vương cung kính cúng dường Phật. Ðức Phật đó vì ta mà nói kinh tên là Nhứt Thiết Phật Xuất Hiện, mười Phật sát vi trần số tu đa la làm quyến thuộc.

Kế đó có Phật xuất thế hiệu là Kim Cang Vô Ngại Ðức. Ta làm Chuyển Luân Vương cung kính cúng dường Phật. Ðức Phật đó vì ta mà nói kinh tên là Phổ Chiếu Nhứt Thiết Chúng Sanh Căn, Tu Di sơn vi trần số tu đa la làm quyến thuộc, ta đều thọ trì.

Kế đó có Phật xuất thế tên là Hỏa Diệm Sơn Diệu Trang Nghiêm. Ta thuở đó làm trưởng giả nữ. Ðức Phật đó vì ta nói kinh tên là Phổ Chiếu Tam Thế Tạng. Diêm Phù Ðề vi trần số tu đa la làm quyến thuộc. Ta đều nghe hiểu y giáo thọ trì.

Kế đó có Phật xuất thế hiệu là Nhứt Thiết Pháp Hải Cao Thắng Vương. Thuở đó ta làm A tu la vương cung kính cúng dường Phật. Ðược Phật nói kinh tên là Phân Biệt Nhứt Thiết Pháp Giới, năm trăm tu đa la làm quyến thuộc. Ta đều nghe hiểu như pháp thọ trì.

Kế đó có Phật xuất thế hiệu là Hải Nhạc Pháp Quang Minh. Thuở đó ta làm Long vương nữ mưa mây như ý ma ni bửu cúng dường Phật. Ðức Phật đó vì ta mà nói kinh tên là Tăng Trưởng Hoan Hỷ Hải, có trăm vạn ức tu đa la làm quyến thuộc. Ta đều nghe hiểu như pháp thọ trì.

Kế đó có Phật xuất thế hiệu là Bửu Diệm Sơn Ðăng. Thuở đó ta làm Hải Thần mưa mây bửu Liên hoa cung kính cúng dường Phật. Ðức Phật đó vì ta mà nói kinh tên là Pháp Giới Phương Tiện Hải Quang Minh. Có Phật sát vi trần số tu đa la làm quyến thuộc. Ta đều nghe hiểu như pháp thọ trì.