Lượt truy cập
Kinh sách đủ loại

Lược Thuật Hành Trạng - HT. Quảng Khâm
 

Dịch giả: Ni Chúng Tự Viện Vĩnh Minh Lâm Đồng

Hiệu Đính: GS. Phạm Phú Thành, ĐĐ: Thích Giải Hiền

Phần 1


MỤC LỤC

Nhân duyên in sách
Thư ủy quyền (bản tiếng Hoa)
Thư ủy quyền (Bản dịch tiếng Việt)
Biên tập thuyết minh

1. Lược thuật Hành trạng Hòa thượng Quảng Khâm. Lâm Giác Phi
2. Những lời khai thị của Hòa thượng Quảng Khâm. Lâm Giác Phi
3. Tôi có nhân duyên với Hòa thượng Quảng Khâm. Lâm Giác Phi
4. Một đoạn nhân duyên giữa tôi và Bồ - Tát Quảng Khâm.Chu Tuyên Đức
5. Đối thoại giữa Ngài Quảng Khâm và Pháp sư Tuyên Hóa.Giang Khải Siêu
6. Bái kiến và phỏng vấn Hòa thượng Quảng Khâm. Chương Khắc Phạm
7. “Pháp sư trái cây” không nơi nào không tự tại. Vân Lâm
8. Hòa thượng Quảng Khâm niệm Phật tam- muội.Vân Lâm
9. Hồi ký về Hòa thượng Quảng Khâm. Chương Khắc Phạm
10. Hòa thượng Quảng Khâm đã nói như vậy… Thủ Như
11. Hòa thượng khai đàn truyền giới, Đại chúng nao nức vui mừng. Huỳnh Kiến Hưng
12. Ngọn đèn mãi mãi chiếu sáng. Xã luận của Tuần san Từ Ân
13. Tưởng niệm các bậc Thiện tri thức. Cảm thán Hòa thượng Quảng Khâm Niết-bàn.Thích Khai Chứng
14. TÁN (xướng vào lúc cử hành đại lễ)
15. Niệm Nam- mô A-Di-Đà Phật là “Tổng tụng”. Quách Huệ Trân
16. THẦN DỊ THIÊN: Pháp thân Hòa thượng Quảng Khâm thị hiện linh hiển. Phùng Phùng
17. Xá – lợi linh thiêng của Hòa thượng Quảng Khâm. Đại Hoang

 

Nhân duyên in sách

Chùa Thừa Thiên Thiền Tự ở Thành Phố Thổ Thành, huyện Đài Bắc cùng với tên tuổi của Ngài Quảng Khâm từ lâu đã đi vào lòng người Phật tử và trở thành niềm tự hào của Phật giáo Đài Loan.

Ngài Quảng Khâm xuất gia tu học tại chùa Thừa Thiên, Tuyền Châu, Phúc Kiến, Trung Quốc: Sau đó, Ngài đến Đài Loan hoằng pháp và xây dựng chùa Thừa Thiên Thiền Tự. Ngài được tôn như Quốc Sư của Đài Loan, tổng thống Tưởng Kinh Quốc mỗi khi gặp việc lớn của quốc gia thường đến cầu thỉnh ý Ngài. Ngài nổi tiếng về hạnh tu đầu đà, sáu mươi năm Ngài không ăn đồ nấu, toàn ăn hoa quả và không hề đặt lưng xuống giường thường ngồi thiền tọa. Ngài viên tịch trong tư thế thiền tọa.

Chùa Thừa Thiên Thiền Tự cho đến nay vẫn giữ hạnh tu đầu đà, chư tăng ni ở chùa sống cuộc sống thanh bần, mặc dầu Phật tử và du khách đến chùa  rất đông, nguồn thu nhập rất lớn nhưng cuộc sống đầu đà của chư tăng vẫn không thay đổi. Sau khi Ngài Quảng Khâm viên tịch đệ tử Ngài là Hòa thượng Tuyền Hối lên kế thế. Trong thời gian Ngài Tuyền Hối kế thế trụ trì Ngài đã đem số tiền mà thập phương thiện tín cúng dường cho chùa Thừa Thiên Thiền Tự đi giúp xây dựng các Phật học viện và cơ sở hoằng pháp khác ở Đài Loan mà đặc biệt là những cơ sở này không phải của Ngài và không thuộc hệ thống của Thừa Thiên Thiền Tự, chỉ cần những nơi ấy yêu cầu là Ngài đều sẵn lòng giúp tất cả nguồn tài chánh, điều này giúp chúng ta thấy được tâm hạnh Bồ tát của Ngài. Trước khi Ngài viên tịch, Ngài bảo đệ tử tống kết số tiền mà trong mấy chục năm Ngài làm trụ trì thập phương Phật tử cúng riêng cho Ngài tất cả được năm trăm triệu Đài tệ (khoảng hai mươi tỷ đồng Việt Nam) Ngài phân làm năm phần cúng dường cho bốn cơ sở Phật giáo là: Ttường đại học Phật Quang của Ngài Tinh Vân Phật Quang Sơn, trường đại học Pháp Cổ Sơn của Ngài Liểu Trung và công trình hy vọng xây dựng sáu mươi ngôi trường trung tiểu học do hội Từ Tế của Ni Sư Chứng Nghiêm đảm trách mỗi đơn vị một trăm Đài tệ, còn lại một trăm triệu Đài tệ Ngài cúng cho năm tổ chức từ thiện của chính phủ và các tôn giáo khác.

Sau khi Ngài Truyền Hối viên tịch đệ tử là Thượng Tọa Đạo Cầu lên kế vị trụ trì, vẫn tuân giữ đạo phong và thanh quy của chùa tiếp tục tu hạnh đầu đà. Mặc dầu là trụ trì một chùa lớn Thượng Tọa Đạo Cầu vẫn rất giản dị mộc mạc và Ngài không bao giờ bỏ thời khóa tụng kinh ở chùa, khi tiếp khách dù là vị khách như thế nào cứ đến 3h45 chiều là Ngài nói với khách hoan hỷ ra về hay lên chùa làm lễ vì sắp đến giờ Ngài phải đi công phu chiều với đại chúng rồi. Việc tuân thủ giờ giấc của thời khóa tu tập hằng ngày của Thượng Tọa trụ trì như vậy cũng đủ cho chúng ta thấy được đạo phong của chùa Thừa Thiên Thiền Tự như thế nào.

Trong thời gian du học ở Đài Loan, tôi được quen Phật tử Triệu Sâm Phát và vợ là Lữ Tá Trí. Hai vị là hộ pháp của chùa Thừa Thiên Thiền Tự. Mọi giấy tờ nhà đất của chùa đều do vợ chồng Phật tử Triệu Sâm Phát đứng ra giải quyết. Trong chùa mỗi khi có việc quan trọng điều gọi và  giao cho vợ chồng Phật tử đứng ra lo liệu. Khi Ngài Truyền Hối Sắp viên tịch Ngài cho gọi hai vợ chồng Phật tử Triệu Sâm Phát thay Ngài chuyển số tiền của Ngài cúng dường đến hội Từ Tế nên vợ chồng Phật tử rất được chùa tin cẩn.

Trong một lần về Việt Nam nghỉ hè và lo trai đàn Chẩn tế ở chùa Linh Ẩn, các chư Ni của Vĩnh Minh Tự Viện có thưa với tôi việc dịch quyển (Quảng Công Hành Trạng) và muốn in nhưng không có kinh phí nhờ tôi tìm cách giúp cho quý vị đạt thành sở nguyện tôi liền nghĩ ngay đến vợ chồng Phật tự Triệu Sâm Phát và Lữ Tá Trí mà tôi quen, nên nói quý vị viết liền cho tôi ít chữ để khi xong lễ sang lại Đài Loan tôi sẽ tìm cách giúp quý vị.

Sau khi về lại Đài Loan tôi đã nhờ Phật tử Triệu Sâm Phát đưa đến chùa Thừa Thiên Thiền Tự tổng cộng ba lần để đảnh lễ Thượng Tọa Đạo Cầu cùng ban quản trị của chùa để xin phép cho quý cô được dịch và in quyển sách trên ra Việt văn, Thượng Tọa Đạo Cầu rất hoan hỷ và xin ban quản trị ủng hộ kinh phí một trăm năm mươi lăm ngàn Đài tệ để in sách. Được phép và được tiền rồi tôi cùng thầy Phạm Phú Thành nỗ lực sửa bản dịch (theo khả năng của chúng tôi) để không phụ lòng của Thượng Tọa Đạo Cầu, ban quản trị của chùa cùng quý Phật tử Triệu Sâm Phát và Lữ Tá Trí đã dốc lòng giúp đỡ.

Nay công việc in sách sắp đi vào giai đoạn cuối. Tôi kính ghi đôi dòng nhân duyên này để tỏ lòng tri ân cùng chư Tôn đức, quý Phật tử và cần cầu chư Tôn thức giả chỉ giáo nhiều cho lần tái bản sau.

Đà Lạt, ngày Vu Lan năm 2003

Thích Giải Hiền khể thủ

 

Thư ủy quyền (Bản dịch tiếng Việt)

Về việc: Dịch ra Việt văn và Ấn tống sách “Quảng Công Thượng Nhân Sự Tích”

  1. Nay chấp nhận cho Đại Đức Thích Giải Hiền cùng quý sư cô (tất cả 5 vị) được toàn quyền phiên dịch “Quảng Công Thượng Nhân Sự Tích” (phụ khai thị lục hành trì ngữ lục) do Thừa Thiên Thiền Tự ấn bản ra Việt văn.

  2. Nay chấp nhận cho Đại Đức Thích Giải hiền cùng quý sư cô (tất cả 5 vị) ấn tống 5.000 quyển “Quảng Công Thượng Nhân Sự Tích” bằng Việt văn. Đồng thời hoan nghênh việc phiên dịch ấn tống lưu truyền sách trên.

  3. Kinh phí ấn tống 5.000 quyển bản Việt văn là 30 Đài tệ/1 cuốn. Tổng cộng 150.000 Đài tệ (một trăm năm mươi nghìn Đài tệ) do Thừa Thiên Thiền Tự cúng dường.

Trung Hoa Dân Quốc năm thứ 91

Ngày 28 tháng 10 năm 2002

Bên được quỷ quyền    Bên lập thư ủy quyền

Việt Nam Minh Đức Tư Thiện   Phật Giáo Tài Đoàn Pháp Nhân

Sự Nghiệp Cơ Kim Hội       Thừa Thiên Thiền Tự Trụ Trì

 

THÍCH GIẢI HIỀN                        THÍCH ĐẠO CẦU

 (Đã ký)       (Đã ký và đóng dấu)

 

Biên tập thuyết minh

Vào năm 1997, khi chỉnh lý các bài ghi chép cũ, chúng tôi tìm thấy một số bài ghi lại lời giảng của Ngài Quảng Khâm tại Pháp Hội tháng 7 năm 1974. Cùng thời gian này, thấy xuất hiện một phần tư liệu do một vị đệ tử của Ngài lưu giữ. Hai nhóm tư liệu được đem kết tập thành cuốn “Quảng Khâm Thượng Nhân khai thị” (Những lời giảng dạy của Ngài Quảng Khâm). Xét về thời gian thì phần tư liệu chúng tôi đọc thấy sau lại có trước, nhưng lúc bấy giờ nhân duyên chưa hội đủ để có thể phổ biến đến các vị  độc giả. Nay xin theo thứ tự thời gian, đưa phần tư liệu này lên phía trước của ấn bản đầu tiên, và sách trở thành “Bản có bổ sung”.

Tập sách viết về cuộc đời của Ngài Quảng Khâm xuất bản lần đầu tiên vào tháng 5 năm 1986 sau khi Ngài viên tịch ít lâu. Tập sách này tập hợp những bài viết về Ngài được đăng tải trên các báo và tạp chí, lúc đó ấn tống 5000 bản. Sau khi xuất bản phát hiện thấy nhiều sai sót, nên khi tái bản đã cho đính chính và sửa chữa những sai sót ấy.

Sau lần xuất bản đầu tiên chưa đầy vài tháng, độc giả đã nhanh chóng thỉnh hết; vì vậy vào tháng 9 năm đó sách lại được tái bản 5000 cuốn. Lần đầu và lần thứ hai xuất bản, sách đều gồm 32 bài viết; lần thứ ba sửa còn 25 bài. Nội dung và văn chương của lần xuất bản đầu và lần thứ hai hoàn toàn giống nhau; nhưng lần thứ hai, ngoài việc sửa chữa một số sai sót của lần đầu, các bài viết còn được sắp xếp theo thứ tự thời gian; đến lần xuất bản thứ ba mới thêm vào phần đối thoại giữa Hòa Thượng Quảng Khâm và Hòa Thượng Tuyên Hóa, và thiên cuối sách nói về “Những điều linh hiển”.

Về những hình ảnh tư liệu, có thêm ảnh chụp điện Tam Thánh của chùa Thừa Thiên trước khi trùng tu và ảnh nhà kỷ niệm Ngài Quảng Khâm. Lại có các ảnh cũ về đời sống sinh hoạt của Ngài, cùng một số hình ảnh hai ngày trước khi Ngài viên tịch.

Tháng 2 năm 1992, sách lại thêm bài “Niệm Nam – Mô A – Di-Đà- Phật, tức là Tổng tụng”.

Tập sách viết về hành trạng (tiểu sử) này đã được xuất bản 3 lần, mỗi lần ấn tống 5000 cuốn, đều được độc già thỉnh hết.

Đến lần xuất bản thứ tư này, có người đề nghị nên có lời giải thích về những điều sửa đổi của ba lần xuất bản trước cho độc giả hiểu nhưng vì lúc đó công việc ở chùa quá bận rộn nên không kịp cải chính. Do vậy mà nay chúng tôi đặc biệt xin có đôi lời thuyết minh giải bày ở đây.

Ban biên tập cẩn chí

 

Lược thuật Hành trạng Hòa thượng Quảng Khâm. Lâm Giác Phi

Hòa thượng sinh ngày 26 tháng 10, năm Quang Tự thứ 18, cuối đời Nhà Thanh. Ngài là con gia đình họ Hoàng ở huyện Huệ An, tỉnh Phúc Kiến. Năm lên bốn tuổi, vì gia đình nghèo khó, anh của Ngài không có tiền cưới vợ, cha mẹ đem Ngài bán cho một gia đình họ Lý ở ngoại thành phía Nam thuộc huyện Tấn Giang để làm con nuôi,

Cha nuôi ngài tên Lý Thọ, mẹ nuôi tên Lâm Thái. Từ thuở nhỏ Ngài yếu đuối và nhiều bệnh tật, nhưng huệ căn đầy đủ, theo mẹ tin Phật, ăn chay.

Khi Ngài vừa lớn lên cha mẹ nuôi lần lượt qua đời để lại ruộng vườn, bà con rắp tâm chiếm đoạt. Ngài cảm nhận sâu sắc cuộc đời là vô thường khởi tâm xuất gia, đem ruộng đất chia cho bà con, rồi đến xin vào tu trong chùa Thừa Thiên ở Tuyền Châu.

Vị trụ trì chùa Thừa Thiên là Hòa Thượng thượng Chuyển hạ Trần bảo Ngài quy y tu khổ hạnh với Pháp sư thượng Thụy hạ Phương. Pháp sư giao Ngài làm các công việc bên ngoài như: nhổ cỏ, trồng rau… Sau đó, do nhân duyên đặc biệt Ngài có đến Nam Dương (Inđônêxia) ở nhiều năm. Khi trở về chùa Thừa Thiên Ngài đã 36 tuổi, lúc bấy giờ mới được Pháp sư thượng Thụy hạ Phương xuống tóc, đặt Pháp danh là Chiếu Kính, tự là Quảng Khâm. Sau khi xuất gia, Ngài chuyên tâm tu khổ hạnh, ăn những món mà người khó ăn, làm những việc người khó làm, thường ngồi  không nằm, nhất tâm niệm Phật. Năm 1933, Ngài đến chùa Từ Thọ Thiền Tự ở Nang Sơn, huyện Bồ Điền yết kiến Hòa thượng Diệu Nghĩa để cầu giới, lúc ấy Ngài đã 42 tuổi. Sau khi thọ giới trở về, Ngài quyết chí tinh tấn ẩn tu. Được sự đồng ý của Hòa Thượng thượng Chuyển hạ Trần. Ngài chỉ mang theo áo quần, vật dụng đơn sơ và hơn 10 cân gạo (một cân = 600 gam) đến núi Thanh Nguyên phía Bắc thành Tuyền Châu, tìm một động đá giữa sườn núi làm chỗ trú thân, ở trong động tọa thiền niệm Phật. Khi lương thực mang theo cạn hết, Ngài ăn củ rễ cây và trái rừng cho đỡ đói. Trong núi có nhiều cọp và khỉ, lâu ngày người và thú sống với nhau không còn sợ sệt, lại có vượn khỉ dâng trái cây, cọp dữ đến quy y. Từ đó mỹ hiệu  “Phục hổ sư” (Thầy hàng phục cọp) lan truyền khắp nơi.

Ngài thường nhập định có khi đến vài tháng không ăn, không cử động, thậm chí hơi thở cũng không còn. Mọi người lầm tưởng Ngài đã viên tịch, nhiều lần xin hòa thượng trù trì chuẩn bị hỏa táng Ngài.

Lúc bấy giờ Ngài Hoằng Nhất Đại Sư – một vị cao tăng Luật tông - ở chùa Phổ Tuế huyện Vĩnh Xuân, nghe tin vội vàng đến chùa Thừa Thiên, rồi cùng với Đại lão Hòa thượng thượng Chuyển hạ Trần và vài người nữa lên núi xem xét, đến nơi mới biết Ngài còn ở trong Định, mọi người vô cùng tán thán. Đại sư Hoằng Nhất búng ngón tay ba lần thỉnh Ngài xuất định.

Ngày tháng trôi mau, thấm thoát đã 13 năm. Vào năm Ất Dậu (1945), Ngài xuống núi trở về chùa Thừa Thiên; mùa thu năm sau Ngài đến Nam Phổ Đà – Hạ Môn, vào ở trong động đá nơi núi phía sau để ngày đêm lễ Phật. Năm Đinh Hợi (1947) Ngài 56 tuổi, ngảy rằm tháng sáu, Ngài từ Hạ Môn lên tàu Anh vượt biển sang Đài Loan, trưa ngày 16 cập bến Cơ Long.

Lúc đầu Ngài ở tạm trong các chùa Cực Lạc. Linh Tuyền, Tối  Thắng, đầu tháng 7 dời sang động núi Chi Sơn ở Đài Bắc. Sau Trung Thu Ngài lại đến tạm trú trong một ngôi nhà trống xây theo kiểu Nhật Bản nằm giữa sườn núi bờ nam thuộc Điếu Kiều – Tân Điếm. Lúc bấy giờ Ngài cũng thường lui tới chùa Pháp Hoa – Đài Bắc, nơi đây Ngài đã siêu độ hồn ma người Nhật. Mùa xuân năm Mậu Tý (1948) Ngài khoét một động đá nơi vách núi phía sau đường Tân Điếm và gọi nó là hàng núi Quảng Minh (chùa Quảng Minh ngày nay). Đến năm Tân Mão (1951) Ngài tạc tượng Phật A-Di-Đà lớn trên vách đá phía bên phải động, mở đầu cho phong cách tạc tượng Phật trên đá, ở Đài Loan.

Tháng 11 cùng năm (1951), nghe nói có động cổ thiên nhiên trên núi Thành Phước nằm giữa Thổ Thành và Tam Hiệp, Ngài liền dẫn bốn đệ tử, bám dây rừng leo lên. Quả nhiên gặp một  thạch động rất lớn, cao hơn hai trượng, rộng vài trượng, sâu khoảng hai trượng. Ngài ở một mình trong động ngay đêm ấy. Động quay về hướng đông, mặt trời mặt trăng khi mới mọc đều chiếu ánh sáng vào động, do vậy Ngài đặt tên là động Nhật Nguyệt. Trên đỉnh động có dòng suối, nước rất trong, uống vào thấy ngọc ngào, tinh thần sảng khoái.

Từ đó Ngài trở lại cuộc sống ẩn cư.

Tháng 5 năm sau (1952), Ngài cất thêm ba gian nhà ván, bên ngoài động thờ tượng Bồ-Tát Địa Tạng. Ngài ở đó được 3 năm, đồng thời lại cất thêm một gian nhà tranh trên đỉnh động để độ đệ tử cùng tu. Tháng 2 năm 1953, Ngài lại lên đỉnh núi cất một am tranh nhỏ trước một tảng đá lớn để ở.

Tháng ba năm Ất Mùi (1955), Phật tử ở Bản Kiều mua vùng đất núi Hỏa Sơn ở Thổ Thành huyện Đài Bắc cúng cho Ngài. Nay chính là chùa Thừa Thiên núi Thanh Nguyên, Thành phố Thổ Thành, huyện Đài Bắc – Đài Loan).

Vùng đất này, trước khi vốn là rừng tre ít người lui tới. Ngài cùng đệ tử đốn tre làm giường, trải cỏ mịn lên trên để ngồi thiền. Ngài nói với các đệ tử: “Thầy ngồi đây rất tốt, các con về được rồi”. Đến giữa tháng 5 năm ấy, Ngài xây một gian nhà ngói để thờ Phật. Năm sau Ngài trở về chùa Quảng Chiếu ở Tân Điếm.

Cuối năm 1958 (năm Mậu Tuất), Ngài trở về Hỏa Sơn, năm sau (năm Kỷ Hợi) lại cất thêm vài gian nhà tranh. Đến tháng 4 năm 1960 (năm Canh Tý) mới xây dựng Đại Hùng Bảo Điện để nhớ về Tổ đình (ở Trung Quốc) Ngài đặt tên là Thừa Thiên Thiền Tự. Núi Hỏa Sơn thì gọi là núi Thanh Nguyên. Năm 1962 Ngài xây dựng Điện Tam Thánh.

Năm 1963 (Năm Quý Mão), Ngài 72 tuổi, thể theo lời mời của Phật tử, Ngài đến Thiên Tường – Hoa Liên ở vài tháng giúp xây chùa Tường Đức (nay là tháp Thiên Phong, tức là am tranh mà Ngài ngồi thiền xưa kia). Sau lại chấp nhận lời thỉnh cầu của những đệ tử ở miền trung thỉnh Ngài đến Nam Liêu núi Long Tỉnh-Đài Trung sáng lập chùa Quảng Long. Năm 1964 (năm Giáp Thìn) Ngài trở về chùa Thừa Thiên ở Thổ Thành, cuối năm đó Ngài dựng cổng chùa, sửa lều tranh lại thành phương trượng xây bằng bê-tông, kế tiếp vào tháng 9 năm 1965 xây trai đường và nhà trù… Chùa Thừa Thiên, bước đầu kể như được hoàn tất.

Ban đầu chùa Thừa Thiên làm bằng gạch ngói, nhưng xây cất vội vàng cho xong, lâu ngày nền đất lún xuống, tường vách bị nứt nẻ, do vậy mà vào mùa xuân năm 1976 bắt đầu xây cất lại. Đầu tiên liêu phòng của chúng nữ trước điện Tam Thánh được xây lại thành lầu hai tầng bằng bê-tông cốt sắt. Mùa thu năm sau, mở núi ban đất, tháo dỡ các công trình xây dựng cũ: điện Tam Thánh, trai đường, nhà bếp, Đại Hùng Bảo Điện, liêu phòng chúng nam và phương trượng. Mùa xuân năm 1978, trên nền Đại Hùng Bảo Điện cũ xây điện Tam Thánh và liêu phòng hai tầng, rồi dựa theo thế đất núi xây Tổ Đường; chỗ trai đường cũ cất lại trai đường hai tầng và nhà bếp. Năm 1979 bắt đầu kiến tiết Đại Điện mới. Năm 1983, đặt móng Lầu Đại Bi bên triền núi phải, hiện nay cấu trúc Lầu Đại Bi sắp hoàn thành. Năm 1969 Ngài lại xây dựng chùa động Quảng Thừa ở bên phải phía sau nhà hành chánh thị trấn Thổ Thành.

Năm 1978, tại nơi đây xây tháp Hoa Tạng, kế đến là Đại Hùng Bảo Điện, hai dãy thiền phòng, tầng hầm dưới mặt đất, tàng kinh các, điện La Hán, giảng đường, thiền phòng trên và dưới lầu lần lượt được hoàn thành. Sau lại lợp lại Điện Địa Tạng hoàn thành mới như ngày nay. Công trình thi công kiến trúc chùa động Quảng Thừa do Pháp sư Truyền Bân chủ trì.

Tháng 9 năm 1982, Ngài phái người đệ tử từng theo Ngài trên dưới 10 năm là pháp sư Truyền Văn đến thôn Bảo Lai, hương Lục Quy huyện Cao Hùng xây dựng chùa Diệu Thông. Đến nay Đại Hùng Bảo Điện, Ngũ Quán đường, Niệm Phật đường, liêu phòng chúng nữ đều đã cất xong. “Linh sơn bảo tháp” sau này thờ linh cốt Ngài cũng đang bắt đầu thi công. Tháng 7 năm 1984 Ngài đến chùa này, sang tháng 10 năm 1985 mở Đại Giới Đàn, giới từ khắp nơi quy tụ về rất đông, trên mấy ngàn người; đồng thời Ngài mở Pháp Hội “Thủy Lục” phổ độ chúng sanh, trang nghiêm chưa từng thấy.

Ngài có nếp sống mộc mạc, bình dị, khiêm cung hòa ái, tuy đã gần trăm tuổi mà đi không dùng gậy, không cần người dìu đỡ, thân thể nhẹ nhàng rắn chắc. Ngài thường ngồi mà không nằm, có khi ngồi thoài thất, giữa trời hoặc dưới mái hiên. Từ năm 78 tuổi Ngài đổi dùng thức ăn lỏng.

Cuối năm 1985, Ngài lấy lý do, trông coi công việc xây lầu Đại Bi chùa Thừa Thiên nên ngài muốn trở về Đài Bắc. Ngày 25 tháng 12 âm lịch, pháp sư Truyền Hối xuống miền Nam. Ngày 26 thỉnh Ngài về chùa Thừa Thiên. Các phật tử miền Bắc nghe tin, từng đoàn đến thăm viếng Ngài.

Sáng sớm mồng một Tết, Ngài triệu tập các đệ tử có trọng trách ở các phân viện cùng đại chúng chùa Thừa Thiên đến để dặn dò cẩn thận, đồng thời nói về việc hỏa táng sau khi Ngài viên tịch: linh cốt sẽ chia làm ba phần, để tại các chùa Thừa Thiên, chùa Diệu Thông và chùa Quảng Thừa. Cơm sáng xong, Ngài tỏ ý muốn trở về chùa Diệu Thông, đại chúng thấy ý Ngài đã quyết không dám giữ lại, liền đó đưa Ngài về miền Nam.

Về đến chùa Diệu Thông, Ngài niệm Phật liên tục cả đêm lẫn ngày, có khi tự gõ mõ và dạy đệ tử cùng niệm. Đến ngày mùng 5, mắt Ngài trong sáng, định tĩnh an tường, không có vẻ gì khác lạ. Khoảng hai giờ chiều, bất chợt Ngài nói với đại chúng: “không đến cũng không đi, chẳng có việc gì”. Ngài quay sang các đệ tử, gật đầu mỉm cười rồi an tọa nhắm mắt. Một lát sau mọi người thấy Ngài bất động, đến xem kỹ mới hay Ngài đã an lành viên tịch trong tiếng niệm Phật của đại chúng.

Cả một đời Ngài ẩn tu khổ hạnh, an bần lạc đạo, ý chí kiên cường, tâm hồn chất phác, trí tuệ khai thông, cuối cùng Ngài đã giác ngộ hoàn toàn. Khi đến Đài Loan, Ngài rộng độ cả hai cõi âm dương, cầm thú quy phục, an vui với thiền, không dùng thức ăn nấu chín. Trải qua nửa đời người, Ngài là bậc mô phạm thể hiện công đức tu hành, thực hành đúng khuôn mẫu của những bậc tu khổ hạnh đầu đà, thật đáng tán tụng như các bậc Cổ Đức. Tiếc rằng chúng sanh phước mỏng nghiệp dày, chưa được hưởng những lời dạy dỗ của Ngài mà Ngài đã ra đi. Biết bao nhiêu người đốt hương khấn nguyện cầu mong Ngài không xả ly bi nguyện, trở lại lèo lái thuyền từ, rộng độ quần mê, đưa chúng sanh sang bờ giải thoát, đồng thành tựu Chánh Giác.

Quảng Khâm Lão Hòa Thượng Viên Tịch Tán Tụng Uỷ Viên Hội

(Ban tang lễ, lễ tang Đại Lão Hòa Thượng thượng Quảng hạ Khâm)

Trung Hoa Dân Quốc năm 75, ngày 28 tháng 2

Hòa Thượng trụ tại chùa Thừa Thiên Thiền Tự từ tháng ba năm 1955 đến tháng bảy năm 1984 thì về ở tại chùa Diệu Thông tổng cộng hơn 30 năm. Mùa xuân năm 1984 chùa Diệu Thông bắt đầu được xây dựng, sau khi dự Pháp Hội Đại Bi tháng 2 âm lịch xong, Ngài liền về chùa Diệu Thông, trước khi đi Ngài cho biết cứ mỗi tháng vào dịp Pháp Hội Đại Bi Ngài sẽ trở về. Như thế là mỗi tháng Ngài đều chấn tích giữa hai miền Bắc Nam Đài Bắc và Cao Hùng. Đến kỳ Pháp Hội Đại Bi tháng năm, khi Ngài trở về gặp lúc miền Bắc Đài Loan bị nạn lụt “Ngày 03 tháng 6” rất lớn đường lên chùa Thừa Thiên ngập nước đến hông, xe cộ không lưu thông được, tin chúng tham gia Pháp hội Đại Bi chỉ có sáu bảy người; từ đó về sau Pháp Hội Đại Bi chùa Thừa Thiên Ngài không về  dự nữa. Tháng bảy âm lịch năm ấy, chùa Thừa Thiên lần đầu tổ chức Pháp hội Địa Tạng, Ngài lại trở về núi Thanh Nguyên, nhưng chưa kịp đợi đến ngày Pháp Hội hoàn mãn thì vào trung tuần tháng ấy Ngài lại phải trở về chùa Diệu Thông. Cho mãi đến tháng 10, nhân dịp Sinh nhật 93 tuổi của Ngài, Ngài lại trở về chùa Thừa Thiên dự Lễ Chúc Thọ, trong tuần Phật thất chúc thọ Ngài tuyên bố với chúng đệ tử rằng năm tới địa điểm tổ chức truyền giới dời về chùa Diệu Thông.

(Phụ lục của ban biên tập)